Tiền bảo hiểm nhân thọ có được tính là di sản thừa kế không?

Mục lục

Khi người được bảo hiểm qua đời, doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải chi trả một khoản tiền lớn theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Từ đây thường phát sinh tranh chấp giữa người được chỉ định thụ hưởng với vợ, chồng, cha mẹ hoặc các con của người đã chết.

Nhiều người cho rằng mọi khoản tiền phát sinh sau khi một người qua đời đều là di sản và phải được chia cho những người thừa kế. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng chỉ cần hợp đồng bảo hiểm có tên người thụ hưởng thì người này đương nhiên được nhận toàn bộ tiền, bất kể việc chỉ định có hợp pháp hay không.

Trên thực tế, việc tiền bảo hiểm nhân thọ có thuộc di sản thừa kế hay không không thể trả lời giống nhau cho mọi hợp đồng. Cần xác định rõ người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng, nội dung quyền lợi được chi trả, hiệu lực của việc chỉ định người thụ hưởng và nguồn tiền cụ thể mà doanh nghiệp bảo hiểm phải thanh toán.

Bài viết dưới đây phân tích từng trường hợp để giúp người tham gia bảo hiểm, người thụ hưởng và người thừa kế xác định đúng quyền lợi của mình.


Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15;
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn;
  • Thông tư số 67/2023/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;
  • Hợp đồng, quy tắc, điều khoản và biểu phí của từng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.
tiền nhận bảo hiểm nhân thọ có phải di sản thừa kế không?
tiền nhận bảo hiểm nhân thọ có phải di sản thừa kế không?

1. Nên gọi là tiền bồi thường hay tiền bảo hiểm nhân thọ?

Đối với bảo hiểm nhân thọ, cách gọi phù hợp hơn là “tiền bảo hiểm”, “quyền lợi bảo hiểm” hoặc “khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm chi trả”.

Thuật ngữ “bồi thường bảo hiểm” thường gắn với bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thiệt hại hoặc bảo hiểm trách nhiệm, trong đó số tiền chi trả được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế và giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.

Bảo hiểm nhân thọ không vận hành hoàn toàn theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm trả số tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng, chẳng hạn:

  • Quyền lợi tử vong;
  • Quyền lợi thương tật toàn bộ và vĩnh viễn;
  • Quyền lợi bệnh hiểm nghèo;
  • Quyền lợi đáo hạn;
  • Giá trị tài khoản hợp đồng;
  • Giá trị hoàn lại;
  • Quyền lợi đầu tư hoặc quyền lợi tích lũy;
  • Khoản hoàn phí trong trường hợp luật định hoặc theo hợp đồng.

Việc phân biệt đúng tên gọi rất quan trọng bởi mỗi khoản tiền có chủ thể nhận, căn cứ phát sinh và cách xử lý thừa kế khác nhau.


2. Di sản thừa kế là gì?

Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm:

  • Tài sản riêng của người chết;
  • Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Di sản có thể bao gồm tiền, vàng, nhà đất, xe, cổ phần, phần vốn góp, sổ tiết kiệm, quyền tài sản và những tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của người chết.

Cần lưu ý, nghĩa vụ tài sản của người chết không phải là một bộ phận của di sản. Tuy nhiên, trước khi phân chia di sản, những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản nhận được, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Để xác định một khoản tiền có phải di sản hay không, cần xem tại thời điểm mở thừa kế, người chết có quyền sở hữu hoặc quyền yêu cầu thanh toán khoản tiền đó hay không.


3. Người thụ hưởng bảo hiểm nhân thọ là ai?

Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, người thụ hưởng là tổ chức hoặc cá nhân được bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Trong một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có các chủ thể khác nhau:

  • Bên mua bảo hiểm: Người giao kết hợp đồng, đóng phí và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng;
  • Người được bảo hiểm: Người có tính mạng, sức khỏe hoặc tuổi thọ là đối tượng được bảo hiểm;
  • Người thụ hưởng: Người được chỉ định nhận tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
  • Doanh nghiệp bảo hiểm: Chủ thể cam kết chi trả quyền lợi theo hợp đồng.

Một người có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng. Tuy nhiên, trong nhiều hợp đồng, ba vị trí này thuộc về những người khác nhau.

Ví dụ, chồng là bên mua bảo hiểm, vợ là người được bảo hiểm và con là người thụ hưởng. Khi người vợ qua đời thuộc phạm vi bảo hiểm, quyền lợi tử vong có thể được trả cho người con theo nội dung hợp đồng.


4. Người thụ hưởng có bắt buộc phải là người thừa kế không?

Không. Người thụ hưởng bảo hiểm và người thừa kế là hai tư cách pháp lý khác nhau.

Người thừa kế được xác định theo di chúc hoặc theo quy định về hàng thừa kế của Bộ luật Dân sự. Trong khi đó, người thụ hưởng được xác định theo việc chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm.

Tùy điều kiện của sản phẩm và quy định pháp luật, người thụ hưởng có thể là:

  • Vợ hoặc chồng;
  • Cha, mẹ;
  • Con;
  • Anh, chị, em;
  • Người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
  • Cá nhân khác;
  • Cơ quan, tổ chức;
  • Nhiều người cùng thụ hưởng.

Do đó, một người không thuộc hàng thừa kế vẫn có thể được nhận tiền bảo hiểm nếu được chỉ định hợp pháp.

Ngược lại, người thuộc hàng thừa kế thứ nhất không đương nhiên được chia tiền bảo hiểm nếu quyền lợi đó đã phát sinh trực tiếp cho một người thụ hưởng hợp pháp.


5. Tiền bảo hiểm nhân thọ có phải là di sản thừa kế không?

Câu trả lời phụ thuộc vào bản chất của từng khoản tiền và nội dung hợp đồng.

Có thể chia thành hai nhóm lớn:

  • Khoản tiền phát sinh trực tiếp cho người thụ hưởng theo hợp đồng;
  • Khoản tiền thuộc quyền tài sản của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm đã chết.

Nếu hợp đồng chỉ định hợp pháp một người thụ hưởng và sự kiện bảo hiểm làm phát sinh quyền nhận tiền trực tiếp cho người đó thì khoản tiền này về nguyên tắc là quyền lợi theo hợp đồng của người thụ hưởng, không phải tài sản đã thuộc sở hữu của người chết để chia thừa kế.

Ngược lại, nếu khoản tiền phải trả thuộc quyền của người đã chết, chẳng hạn giá trị hoàn lại, khoản hoàn phí hoặc quyền tài sản khác của bên mua bảo hiểm, thì khoản tiền đó có thể được xử lý theo pháp luật thừa kế.

Vì vậy, không nên khẳng định chung rằng mọi tiền bảo hiểm đều không phải di sản hoặc mọi tiền bảo hiểm đều là di sản.


6. Có người thụ hưởng hợp pháp: tiền bảo hiểm có phải chia thừa kế không?

Thông thường là không.

Khi hợp đồng đã chỉ định rõ người thụ hưởng và việc chỉ định đáp ứng điều kiện pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ chi trả quyền lợi tử vong cho người thụ hưởng theo hợp đồng.

Quyền nhận tiền này không phát sinh do người thụ hưởng là vợ, con hoặc người thừa kế. Nó phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm.

Ví dụ, ông A mua bảo hiểm cho chính mình và chỉ định em gái là người thụ hưởng 100% quyền lợi tử vong. Khi ông A qua đời thuộc phạm vi bảo hiểm, em gái có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả theo hợp đồng.

Vợ và các con của ông A không thể chỉ dựa vào tư cách người thừa kế để yêu cầu chia khoản quyền lợi đã được chỉ định hợp pháp cho người em gái.

Tuy nhiên, kết luận này chỉ đúng khi:

  • Hợp đồng có hiệu lực;
  • Sự kiện xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm;
  • Người thụ hưởng được chỉ định hợp pháp;
  • Việc chỉ định chưa bị thay đổi hoặc hủy bỏ;
  • Người thụ hưởng không thuộc trường hợp bị loại trừ quyền nhận tiền;
  • Không có tranh chấp về giả mạo, lừa dối hoặc năng lực hành vi;
  • Hợp đồng không có điều khoản khác được pháp luật cho phép.

7. Người thụ hưởng nhận tiền có phải làm thủ tục khai nhận di sản không?

Nếu người đó nhận tiền với tư cách người thụ hưởng theo hợp đồng thì thông thường không phải thực hiện thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản.

Người thụ hưởng trực tiếp nộp hồ sơ yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải quyết quyền lợi.

Hồ sơ thường gồm:

  • Phiếu hoặc đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm;
  • Hợp đồng hoặc thông tin hợp đồng;
  • Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử;
  • Hồ sơ y tế, biên bản tai nạn hoặc tài liệu về nguyên nhân tử vong;
  • Căn cước hoặc hộ chiếu của người thụ hưởng;
  • Tài liệu xác nhận tài khoản ngân hàng;
  • Giấy tờ chứng minh tư cách người đại diện nếu người thụ hưởng chưa thành niên;
  • Các tài liệu khác theo quy tắc bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm không nên yêu cầu văn bản khai nhận di sản chỉ vì người được bảo hiểm đã chết nếu người yêu cầu được ghi nhận rõ là người thụ hưởng.


8. Không chỉ định người thụ hưởng thì tiền bảo hiểm được giải quyết thế nào?

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 không có một quy định chung theo hướng mọi hợp đồng không chỉ định người thụ hưởng thì tiền bảo hiểm tự động trở thành di sản.

Việc giải quyết cần căn cứ vào:

  • Chủ thể được quyền nhận tiền theo hợp đồng;
  • Quy tắc và điều khoản sản phẩm;
  • Loại quyền lợi bảo hiểm;
  • Tư cách của bên mua bảo hiểm;
  • Tư cách của người được bảo hiểm;
  • Quy định pháp luật về thừa kế.

Trong nhiều sản phẩm, hợp đồng có thể quy định nếu không có người thụ hưởng thì tiền được trả cho bên mua bảo hiểm hoặc người thừa kế hợp pháp của người được bảo hiểm.

Nếu khoản tiền cuối cùng được xác định thuộc về người đã chết hoặc phải trả cho những người thừa kế theo hợp đồng và pháp luật, người yêu cầu có thể phải thực hiện thủ tục xác định người thừa kế, khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia.

Do đó, khi hợp đồng không ghi người thụ hưởng, gia đình cần yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp:

  • Bản hợp đồng;
  • Quy tắc, điều khoản sản phẩm;
  • Phiếu yêu cầu bảo hiểm;
  • Phụ lục và xác nhận thay đổi hợp đồng;
  • Quy định về thứ tự người nhận tiền;
  • Hướng dẫn hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi.

9. Người thụ hưởng chết trước người được bảo hiểm thì xử lý ra sao?

Trường hợp người thụ hưởng chết trước người được bảo hiểm cần kiểm tra xem hợp đồng có:

  • Người thụ hưởng dự phòng hay không;
  • Nhiều người thụ hưởng hay không;
  • Quy định về phần quyền lợi của người thụ hưởng đã chết hay không;
  • Quy định về người nhận tiền thay thế hay không;
  • Việc thay đổi người thụ hưởng sau đó hay không.

Không nên mặc nhiên kết luận phần tiền của người thụ hưởng đã chết sẽ trở thành di sản của người được bảo hiểm hoặc di sản của người thụ hưởng.

Ví dụ, hợp đồng chỉ định hai người con, mỗi người hưởng 50%. Một người con chết trước cha là người được bảo hiểm. Khi người cha qua đời, phần 50% của người con đã chết sẽ được xử lý theo điều khoản hợp đồng: có thể chuyển cho người thụ hưởng còn lại, trả cho người thụ hưởng dự phòng hoặc xác định theo quy định khác.

Nếu hợp đồng không quy định rõ, tranh chấp có thể phải được giải quyết bằng việc giải thích hợp đồng, xác định ý chí của bên mua bảo hiểm và áp dụng pháp luật có liên quan.


10. Người thụ hưởng chết cùng thời điểm với người được bảo hiểm

Trường hợp không thể xác định ai chết trước, pháp luật dân sự có quy định những người có quyền thừa kế của nhau chết cùng thời điểm thì không được thừa kế di sản của nhau.

Tuy nhiên, quyền thụ hưởng bảo hiểm không hoàn toàn đồng nhất với quyền thừa kế. Do đó, vẫn phải xem:

  • Điều khoản về người thụ hưởng;
  • Thời điểm phát sinh quyền nhận tiền;
  • Quy định về người thụ hưởng dự phòng;
  • Thứ tự hoặc tỷ lệ thụ hưởng;
  • Quy định về người nhận tiền khi người thụ hưởng không còn sống.

Nếu người thụ hưởng đã có quyền nhận tiền trước khi chết thì quyền tài sản này có thể trở thành di sản của chính người thụ hưởng. Nếu quyền chưa phát sinh hoặc điều kiện hợp đồng không đáp ứng thì kết quả có thể khác.

Đây là trường hợp phức tạp, đặc biệt trong tai nạn làm nhiều thành viên gia đình tử vong, cần nghiên cứu hồ sơ tử vong và hợp đồng cụ thể.


11. Người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết của người được bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của người thụ hưởng, trừ trường hợp có nhiều người thụ hưởng.

Nếu có nhiều người thụ hưởng và chỉ một hoặc một số người cố ý gây ra cái chết hoặc thương tật vĩnh viễn của người được bảo hiểm thì doanh nghiệp vẫn phải trả tiền cho những người thụ hưởng khác theo hợp đồng.

Người có hành vi cố ý gây ra cái chết không được hưởng lợi từ hành vi trái pháp luật của mình.

Phần quyền lợi không được trả cho người có lỗi sẽ được xử lý theo:

  • Quy định tại hợp đồng;
  • Tỷ lệ thụ hưởng;
  • Người thụ hưởng dự phòng;
  • Quy định về hoàn lại giá trị hợp đồng hoặc phí;
  • Pháp luật thừa kế nếu khoản tiền thuộc về bên mua bảo hiểm đã chết.

12. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả quyền lợi tử vong

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể không phải trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp luật định hoặc được thỏa thuận hợp pháp, chẳng hạn:

  • Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày đóng khoản phí đầu tiên hoặc khôi phục hiệu lực hợp đồng;
  • Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm;
  • Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của người thụ hưởng;
  • Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình;
  • Trường hợp loại trừ khác được thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng.

Trong những trường hợp này, doanh nghiệp có thể phải trả lại giá trị hoàn lại hoặc toàn bộ phí đã đóng sau khi trừ chi phí hợp lý theo hợp đồng.

Nếu bên mua bảo hiểm đã chết thì khoản tiền được hoàn trả được giải quyết theo pháp luật thừa kế.

Đây là trường hợp Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định rõ khoản tiền trả lại liên quan trực tiếp đến di sản, khác với quyền lợi tử vong đã được chỉ định cho người thụ hưởng.


13. Giá trị hoàn lại của hợp đồng có phải di sản không?

Giá trị hoàn lại là khoản tiền bên mua bảo hiểm có thể nhận khi hợp đồng chấm dứt trước hạn hoặc trong trường hợp được quy định tại hợp đồng.

Nếu bên mua bảo hiểm qua đời mà tại thời điểm đó có quyền yêu cầu doanh nghiệp trả giá trị hoàn lại thì quyền tài sản này có thể được xem là tài sản của bên mua bảo hiểm và được xử lý theo thừa kế.

Tuy nhiên, nếu cái chết của người được bảo hiểm đồng thời làm phát sinh quyền lợi tử vong cho người thụ hưởng thì cần xác định doanh nghiệp chi trả quyền lợi nào:

  • Quyền lợi tử vong;
  • Giá trị tài khoản;
  • Giá trị hoàn lại;
  • Tổng của một số khoản theo sản phẩm;
  • Khoản cao hơn giữa các quyền lợi;
  • Khoản tiền sau khi khấu trừ nợ hợp đồng.

Không thể tách giá trị hoàn lại ra để chia thừa kế nếu hợp đồng quy định giá trị đó đã được tính trong quyền lợi tử vong trả cho người thụ hưởng.


14. Quyền lợi đáo hạn có phải di sản không?

Quyền lợi đáo hạn thường được trả khi người được bảo hiểm còn sống đến ngày đáo hạn và hợp đồng còn hiệu lực.

Nếu bên mua bảo hiểm hoặc người có quyền nhận tiền đáo hạn chết sau khi quyền này đã phát sinh nhưng chưa nhận tiền, khoản tiền có thể trở thành quyền tài sản trong di sản của người đó.

Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đáo hạn thì thông thường quyền lợi tử vong được giải quyết thay cho quyền lợi đáo hạn, tùy điều khoản sản phẩm.

Do vậy, cần xác định chính xác sự kiện xảy ra trước hay sau ngày đáo hạn và người nào là chủ thể được nhận quyền lợi.


15. Phí bảo hiểm được đóng bằng tài sản chung vợ chồng thì xử lý thế nào?

Phí bảo hiểm được đóng trong thời kỳ hôn nhân từ tiền lương, thu nhập kinh doanh hoặc nguồn tài sản chung có thể có nguồn gốc từ tài sản chung của vợ chồng.

Tuy nhiên, việc phí được đóng bằng tiền chung không đồng nghĩa toàn bộ quyền lợi tử vong phải được chia đôi hoặc chia thừa kế.

Cần phân biệt:

  • Nguồn tiền dùng để đóng phí;
  • Quyền sở hữu hợp đồng;
  • Quyền yêu cầu giá trị hoàn lại;
  • Quyền chỉ định người thụ hưởng;
  • Quyền nhận tiền khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Ví dụ, người chồng dùng thu nhập chung để mua bảo hiểm cho bản thân và chỉ định con là người thụ hưởng. Khi người chồng qua đời, quyền lợi tử vong phát sinh cho người con theo hợp đồng, không đương nhiên trở thành tài sản chung còn lại để người vợ yêu cầu chia một nửa.

Tuy nhiên, nếu người chồng sử dụng tài sản chung với giá trị đặc biệt lớn, cố ý làm giảm khối tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ với vợ, con hoặc chủ nợ thì giao dịch và hậu quả tài sản có thể bị xem xét trong tranh chấp cụ thể.


16. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có phải tài sản chung vợ chồng không?

Hợp đồng bảo hiểm có nhiều quyền tài sản khác nhau. Không nên chỉ nhìn vào tên người đứng hợp đồng để kết luận toàn bộ hợp đồng là tài sản riêng.

Trong thời kỳ hôn nhân, các quyền có giá trị tài sản như giá trị hoàn lại, giá trị tài khoản hoặc quyền nhận tiền đáo hạn có thể được xem xét là tài sản chung nếu hình thành từ tài sản chung và không có căn cứ xác định là tài sản riêng.

Khi ly hôn, Tòa án có thể xem xét:

  • Ai là bên mua bảo hiểm;
  • Ai là người được bảo hiểm;
  • Nguồn tiền đóng phí;
  • Giá trị hoàn lại tại thời điểm giải quyết;
  • Khả năng tiếp tục duy trì hợp đồng;
  • Quyền lợi của người thụ hưởng;
  • Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng;
  • Điều khoản của doanh nghiệp bảo hiểm.

Việc phân chia quyền tài sản khi ly hôn khác với việc chi trả quyền lợi tử vong khi người được bảo hiểm qua đời.


17. Người mua bảo hiểm có quyền thay đổi người thụ hưởng không?

Bên mua bảo hiểm có thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải đáp ứng các điều kiện của Điều 41 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Nếu bên mua bảo hiểm không đồng thời là người được bảo hiểm thì việc thay đổi người thụ hưởng phải được người được bảo hiểm đồng ý bằng văn bản.

Việc thay đổi phải được thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm. Sau khi nhận thông báo, doanh nghiệp bảo hiểm phải xác nhận tại hợp đồng hoặc văn bản đính kèm.

Do đó, việc người mua chỉ tự viết tên người mới trong di chúc hoặc nói miệng với gia đình chưa chắc làm thay đổi người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm.

Để việc thay đổi có hiệu lực, nên thực hiện theo biểu mẫu và quy trình của doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời giữ bản xác nhận đã cập nhật.


18. Có thể dùng di chúc để thay đổi người thụ hưởng không?

Về nguyên tắc, di chúc dùng để định đoạt di sản của người lập di chúc. Trong khi đó, quyền lợi bảo hiểm đã được chỉ định cho người thụ hưởng có thể không thuộc di sản của người lập.

Do vậy, nội dung di chúc không đương nhiên thay thế việc chỉ định người thụ hưởng theo hợp đồng bảo hiểm.

Ví dụ, hợp đồng ghi con gái là người thụ hưởng nhưng di chúc lập sau đó ghi toàn bộ tài sản để lại cho con trai. Nếu người lập di chúc không thực hiện thủ tục thay đổi người thụ hưởng với doanh nghiệp bảo hiểm thì quyền lợi tử vong vẫn có thể được trả cho con gái.

Muốn thay đổi, bên mua bảo hiểm nên:

  • Liên hệ doanh nghiệp bảo hiểm;
  • Lập yêu cầu thay đổi bằng văn bản;
  • Có sự đồng ý của người được bảo hiểm nếu luật yêu cầu;
  • Nhận xác nhận cập nhật;
  • Kiểm tra hợp đồng hoặc phụ lục mới;
  • Thông báo cho người quản lý hồ sơ gia đình.

19. Người thụ hưởng chưa thành niên nhận tiền thế nào?

Trẻ chưa thành niên vẫn có thể được chỉ định là người thụ hưởng.

Khi phát sinh quyền lợi, tiền được quản lý thông qua người đại diện theo pháp luật theo quy định dân sự. Người đại diện có trách nhiệm quản lý tài sản vì lợi ích của trẻ, không được tự ý sử dụng cho mục đích cá nhân.

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể yêu cầu:

  • Giấy khai sinh của trẻ;
  • Căn cước của cha, mẹ hoặc người giám hộ;
  • Giấy tờ chứng minh tư cách đại diện;
  • Quyết định cử người giám hộ nếu có;
  • Tài khoản ngân hàng phù hợp;
  • Cam kết quản lý tiền;
  • Tài liệu khác theo quy trình chi trả.

Nếu có tranh chấp giữa cha mẹ hoặc nghi ngờ người đại diện xâm phạm tài sản của trẻ, người thân và cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ.


20. Người thụ hưởng bị mất năng lực hành vi dân sự

Người mất năng lực hành vi dân sự vẫn có quyền tài sản nhưng việc yêu cầu và nhận tiền được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.

Doanh nghiệp bảo hiểm cần kiểm tra quyết định của Tòa án, thông tin người giám hộ và phạm vi đại diện.

Người giám hộ phải quản lý khoản tiền vì lợi ích của người được giám hộ và chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại.


21. Có nhiều người thụ hưởng thì chia tiền như thế nào?

Bên có quyền chỉ định có thể xác định tỷ lệ hoặc thứ tự thụ hưởng.

Ví dụ:

  • Vợ hưởng 50%, hai con mỗi người hưởng 25%;
  • Người thụ hưởng thứ nhất nhận nếu còn sống, người dự phòng nhận nếu người thứ nhất đã chết;
  • Ba người được hưởng theo tỷ lệ bằng nhau.

Nếu hợp đồng chỉ ghi nhiều người thụ hưởng nhưng không xác định tỷ lệ hoặc thứ tự thì theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, những người thụ hưởng được hưởng theo tỷ lệ như nhau.

Việc một người thuộc hàng thừa kế khác không làm thay đổi tỷ lệ đã được xác định hợp pháp trong hợp đồng.


22. Người thụ hưởng có phải trả nợ thay người chết không?

Nếu khoản tiền được nhận trực tiếp theo tư cách người thụ hưởng và không thuộc di sản thì về nguyên tắc không dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết.

Chủ nợ của người được bảo hiểm không thể mặc nhiên yêu cầu người thụ hưởng giao tiền bảo hiểm để trả nợ.

Tuy nhiên, cần thận trọng trong các trường hợp:

  • Hợp đồng được lập nhằm tẩu tán tài sản;
  • Việc chỉ định nhằm trốn tránh nghĩa vụ;
  • Phí được đóng bằng tài sản đang bị kê biên;
  • Nguồn tiền có được từ hành vi trái pháp luật;
  • Giao dịch bị yêu cầu tuyên vô hiệu;
  • Khoản tiền thực chất thuộc di sản chứ không phải quyền lợi trực tiếp của người thụ hưởng.

Trong những trường hợp này, chủ nợ hoặc người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét bản chất giao dịch.


23. Tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế thì chia thế nào?

Nếu sau khi xem xét hợp đồng và pháp luật, khoản tiền được xác định phải xử lý theo thừa kế thì việc phân chia được thực hiện theo di chúc hoặc pháp luật.

23.1. Chia theo di chúc

Nếu người chết có di chúc hợp pháp và khoản tiền thuộc phạm vi di sản được định đoạt thì thực hiện theo di chúc, nhưng vẫn phải bảo đảm quyền của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

23.2. Chia theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi:

  • Không có di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp;
  • Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm;
  • Người được chỉ định không có quyền hưởng hoặc từ chối nhận;
  • Di chúc không định đoạt hết di sản;
  • Trường hợp khác theo Bộ luật Dân sự.

Hàng thừa kế thứ nhất gồm:

  • Vợ hoặc chồng;
  • Cha đẻ, mẹ đẻ;
  • Cha nuôi, mẹ nuôi;
  • Con đẻ, con nuôi.

Những người cùng hàng được hưởng phần bằng nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác phù hợp pháp luật.


24. Có phải công chứng văn bản khai nhận tiền bảo hiểm không?

Nếu nhận với tư cách người thụ hưởng thì thông thường không phải công chứng văn bản khai nhận di sản.

Nếu nhận với tư cách người thừa kế và doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu chứng minh đầy đủ người thừa kế thì gia đình có thể phải thực hiện:

  • Văn bản khai nhận di sản;
  • Văn bản thỏa thuận phân chia di sản;
  • Văn bản từ chối nhận di sản;
  • Quyết định hoặc bản án của Tòa án;
  • Thủ tục xác định người thừa kế khác.

Việc công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền theo Luật Công chứng.


25. Hồ sơ nhận tiền bảo hiểm theo diện thừa kế

Tùy doanh nghiệp và trường hợp, hồ sơ có thể gồm:

  • Đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi;
  • Giấy chứng tử;
  • Hợp đồng bảo hiểm;
  • Giấy khai sinh, kết hôn và giấy tờ chứng minh quan hệ;
  • Di chúc nếu có;
  • Văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản;
  • Giấy tờ của toàn bộ người thừa kế;
  • Văn bản từ chối nhận di sản;
  • Văn bản ủy quyền;
  • Thông tin tài khoản ngân hàng;
  • Bản án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp nếu có.

Doanh nghiệp bảo hiểm phải hướng dẫn rõ căn cứ yêu cầu từng tài liệu và không được đặt thêm điều kiện trái hợp đồng hoặc pháp luật.


26. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm

Người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng phải nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong thời hạn được Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Nếu người thụ hưởng không biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra thì thời hạn có thể được tính từ ngày người đó biết về sự kiện.

Người yêu cầu nên thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm ngay sau khi có sự kiện, không nên chờ giải quyết xong toàn bộ thừa kế mới liên hệ, bởi:

  • Hồ sơ y tế có thể bị thất lạc;
  • Chứng cứ tai nạn có thể khó thu thập;
  • Thời hạn yêu cầu có thể bị ảnh hưởng;
  • Doanh nghiệp cần thời gian xác minh;
  • Có thể phát sinh tranh chấp người thụ hưởng.

27. Tiền bảo hiểm nhân thọ có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?

Việc chịu thuế phụ thuộc vào loại khoản tiền và tư cách người nhận.

Không nên mặc nhiên áp dụng thuế thừa kế đối với khoản tiền người thụ hưởng nhận trực tiếp theo hợp đồng, vì đây có thể không phải thu nhập từ nhận thừa kế.

Nếu khoản tiền được xác định là di sản, vẫn cần xem loại tài sản nhận thừa kế có thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân hay không. Pháp luật thuế không đánh thuế đối với mọi loại tài sản thừa kế.

Người nhận nên phân biệt:

  • Tiền bảo hiểm trả theo hợp đồng;
  • Khoản lợi tức hoặc thu nhập đầu tư;
  • Khoản tiền nhận thừa kế;
  • Khoản lãi phát sinh do chậm trả;
  • Khoản tiền từ chuyển nhượng hợp đồng.

Trường hợp giá trị lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, nên yêu cầu tư vấn thuế riêng.


28. Tranh chấp tiền bảo hiểm được giải quyết ở đâu?

Tranh chấp có thể phát sinh giữa:

  • Người thụ hưởng với doanh nghiệp bảo hiểm;
  • Những người cùng thụ hưởng;
  • Người thụ hưởng với người thừa kế;
  • Vợ hoặc chồng với bên mua bảo hiểm;
  • Người thừa kế với nhau;
  • Người đại diện của người chưa thành niên;
  • Chủ nợ với người nhận tiền.

Các bên có thể giải quyết bằng:

  • Thương lượng trực tiếp;
  • Khiếu nại đến doanh nghiệp bảo hiểm;
  • Hòa giải;
  • Trọng tài nếu có thỏa thuận hợp lệ;
  • Khởi kiện tại Tòa án.

Thẩm quyền Tòa án được xác định theo loại tranh chấp, nơi cư trú hoặc trụ sở của bị đơn, địa điểm thực hiện hợp đồng và thỏa thuận lựa chọn hợp pháp của các bên.


29. Chứng cứ quan trọng khi tranh chấp người thụ hưởng

Người có quyền lợi liên quan nên thu thập:

  • Hợp đồng bảo hiểm bản gốc hoặc bản sao;
  • Phiếu yêu cầu bảo hiểm;
  • Tài liệu chỉ định người thụ hưởng;
  • Phụ lục thay đổi người thụ hưởng;
  • Xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm;
  • Chứng từ đóng phí;
  • Giấy tờ về nguồn tiền đóng phí;
  • Giấy chứng tử;
  • Hồ sơ bệnh án;
  • Biên bản tai nạn;
  • Di chúc;
  • Tin nhắn, email hoặc ghi âm hợp pháp;
  • Hồ sơ thể hiện năng lực nhận thức của người chỉ định;
  • Chứng cứ về giả mạo hoặc cưỡng ép nếu có.

Thông tin người thụ hưởng trên bản hợp đồng ban đầu chưa chắc là thông tin cuối cùng. Cần yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lịch sử thay đổi và văn bản xác nhận đang có hiệu lực.


30. Những sai lầm thường gặp

30.1. Dẫn Điều 44 để khẳng định tiền bảo hiểm không phải di sản

Điều 44 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 không điều chỉnh vấn đề này mà quy định quyền lợi có thể được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản và thiệt hại.

30.2. Cho rằng không có người thụ hưởng thì luôn chia đều theo hàng thừa kế

Trước hết phải đọc quy tắc hợp đồng và xác định chủ thể có quyền nhận tiền. Không phải mọi khoản đều tự động trở thành di sản.

30.3. Dùng di chúc để thay đổi người thụ hưởng

Di chúc không đương nhiên thay thế thủ tục thay đổi người thụ hưởng với doanh nghiệp bảo hiểm.

30.4. Cho rằng người thụ hưởng phải là người thân

Người thụ hưởng không bắt buộc phải thuộc hàng thừa kế, nhưng việc chỉ định phải đáp ứng điều kiện pháp luật và hợp đồng.

30.5. Nhầm tiền đóng phí chung với tiền bảo hiểm chung

Nguồn phí và quyền nhận tiền là hai vấn đề khác nhau, cần xem xét riêng.

30.6. Mặc nhiên yêu cầu chia tiền cho vợ, con

Tư cách vợ, con không đương nhiên làm phát sinh quyền đối với khoản đã được chỉ định cho người khác.

30.7. Không kiểm tra phụ lục thay đổi người thụ hưởng

Thông tin trên hợp đồng ban đầu có thể đã được sửa đổi.

30.8. Chậm thông báo sự kiện bảo hiểm

Việc chậm yêu cầu có thể gây khó khăn về hồ sơ, chứng cứ và thời hạn.


31. Câu hỏi thường gặp

Tôi là người thụ hưởng thì anh chị em của người chết có được chia tiền không?

Nếu bạn được chỉ định hợp pháp nhận toàn bộ quyền lợi tử vong thì anh chị em không có quyền yêu cầu chia chỉ dựa trên tư cách người thừa kế.

Vợ có quyền đòi một nửa tiền bảo hiểm của chồng không?

Không thể khẳng định chung. Nếu tiền là quyền lợi hợp đồng trả trực tiếp cho người thụ hưởng khác thì không đương nhiên là tài sản chung để chia đôi. Tuy nhiên, có thể phát sinh tranh chấp về nguồn phí hoặc hành vi tẩu tán tài sản.

Hợp đồng ghi ba người thụ hưởng nhưng không ghi tỷ lệ thì chia sao?

Ba người được hưởng theo tỷ lệ bằng nhau, nếu không có thứ tự hoặc thỏa thuận khác.

Người thụ hưởng chết trước thì con của họ có được thế vị không?

Thừa kế thế vị không tự động áp dụng cho quyền thụ hưởng bảo hiểm. Phải xem điều khoản hợp đồng và thời điểm quyền nhận tiền phát sinh.

Người mua bảo hiểm chết nhưng người được bảo hiểm còn sống thì sao?

Hợp đồng được xử lý theo điều khoản về quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, chuyển giao hợp đồng, giá trị hoàn lại và thừa kế quyền tài sản của bên mua.

Doanh nghiệp yêu cầu tất cả người thừa kế ký thì có đúng không?

Nếu người yêu cầu là người thụ hưởng rõ ràng, doanh nghiệp cần nêu căn cứ của yêu cầu này. Nếu khoản tiền được xử lý theo thừa kế thì việc yêu cầu hồ sơ của các đồng thừa kế có thể phù hợp.

Tiền bảo hiểm có dùng trả khoản vay ngân hàng của người chết không?

Nếu quyền lợi được chỉ định cho ngân hàng hoặc hợp đồng được dùng bảo đảm khoản vay thì thực hiện theo thỏa thuận. Nếu trả trực tiếp cho người thụ hưởng khác, chủ nợ không mặc nhiên được lấy khoản tiền này.

Chỉ định người thụ hưởng bằng tin nhắn có hiệu lực không?

Việc chỉ định hoặc thay đổi phải được thực hiện theo hình thức luật và hợp đồng yêu cầu, được doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận. Tin nhắn riêng thông thường không đủ an toàn pháp lý.

Người thụ hưởng từ chối nhận tiền thì sao?

Việc xử lý phụ thuộc hợp đồng, người thụ hưởng dự phòng, những người thụ hưởng khác và quy định pháp luật. Không nên tự động chia theo hàng thừa kế khi chưa xác định căn cứ.


32. Làm thế nào để hạn chế tranh chấp tiền bảo hiểm?

  • Chỉ định người thụ hưởng rõ họ tên, ngày sinh và giấy tờ định danh;
  • Ghi tỷ lệ hưởng nếu có nhiều người;
  • Chỉ định người thụ hưởng dự phòng;
  • Cập nhật khi kết hôn, ly hôn, sinh con hoặc người thụ hưởng qua đời;
  • Thực hiện thay đổi bằng văn bản và nhận xác nhận của doanh nghiệp;
  • Không chỉ ghi chung chung như “người thân” hoặc “các con”;
  • Lưu hợp đồng và phụ lục tại nơi người thân có thể tìm thấy;
  • Thông báo cho người thụ hưởng về sự tồn tại của hợp đồng;
  • Kiểm tra nguồn tiền đóng phí và thỏa thuận tài sản vợ chồng;
  • Không sử dụng hợp đồng để trốn tránh nghĩa vụ;
  • Rà soát hợp đồng định kỳ;
  • Tham khảo luật sư khi giá trị hợp đồng lớn hoặc quan hệ gia đình phức tạp.

33. Kết luận

Tiền bảo hiểm nhân thọ không đương nhiên là di sản thừa kế, nhưng cũng không thể khẳng định mọi khoản tiền bảo hiểm đều nằm ngoài khối di sản.

Nếu hợp đồng có người thụ hưởng được chỉ định hợp pháp và quyền lợi tử vong phát sinh trực tiếp cho người đó thì khoản tiền thường được chi trả theo hợp đồng, không chia cho các đồng thừa kế.

Nếu khoản tiền thuộc quyền tài sản của bên mua bảo hiểm hoặc người đã chết, chẳng hạn giá trị hoàn lại hoặc khoản phí được hoàn trả trong một số trường hợp, thì khoản tiền có thể được giải quyết theo pháp luật thừa kế.

Trường hợp không có người thụ hưởng, người thụ hưởng đã chết, từ chối nhận, cố ý gây ra cái chết hoặc thông tin chỉ định không hợp lệ, cần căn cứ vào quy tắc hợp đồng và từng tình huống cụ thể. Không nên chỉ dựa vào quan hệ gia đình hoặc hàng thừa kế để kết luận.

Để xác định đúng quyền lợi, cần kiểm tra toàn bộ hợp đồng bảo hiểm, phiếu yêu cầu, phụ lục thay đổi người thụ hưởng, chứng từ đóng phí và tài liệu xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm. Khi có tranh chấp lớn, các bên nên tham khảo luật sư trước khi ký văn bản từ chối, thỏa thuận phân chia hoặc khởi kiện.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560