Bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích có được nộp đơn yêu cầu lại hay không? Đây là vấn đề thường phát sinh trong thực tế khi các bên đã từng thỏa thuận bồi thường, hòa giải hoặc vì một lý do nào đó mà người bị thương tích quyết định rút yêu cầu xử lý hình sự, nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến.
Về nguyên tắc, đối với vụ án thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, khi người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ và người đó không có quyền yêu cầu khởi tố lại. Tuy nhiên, pháp luật vẫn đặt ra một ngoại lệ quan trọng: nếu việc rút yêu cầu trước đó xuất phát từ việc bị ép buộc hoặc cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục giải quyết vụ án.
Điều đáng lưu ý là không phải mọi vụ án cố ý gây thương tích đều phụ thuộc vào đơn yêu cầu của bị hại. Việc rút đơn có làm chấm dứt vụ án hay không còn phải căn cứ vào khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với hành vi phạm tội. Do đó, để xác định chính xác hậu quả pháp lý của việc rút đơn, cần phân biệt rõ giữa vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại và vụ án được cơ quan tiến hành tố tụng xử lý độc lập với ý chí của bị hại.

1. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là gì?
Trong tố tụng hình sự, về nguyên tắc, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét và xử lý theo quy định của pháp luật. Việc người bị thiệt hại có muốn xử lý người thực hiện hành vi hay không không phải lúc nào cũng quyết định việc vụ án có được khởi tố.
Tuy nhiên, đối với một số tội phạm nhất định mà tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội được pháp luật xác định ở phạm vi nhất định, Bộ luật Tố tụng hình sự dành cho bị hại quyền quyết định có yêu cầu xử lý hình sự hay không. Đây được gọi là khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, chỉ được khởi tố vụ án đối với tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại trong những trường hợp luật định.
Như vậy, yêu cầu của bị hại trong những trường hợp này không đơn thuần là một nguồn tin về tội phạm mà còn là một điều kiện tố tụng để cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án.
Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, quy định này chỉ đề cập đến trường hợp hành vi thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi trên thực tế nhiều người cho rằng cứ bị đánh gây thương tích thì người bị hại có toàn quyền quyết định rút đơn để chấm dứt vụ án. Cách hiểu này không chính xác.
2. Bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố tội cố ý gây thương tích có được nộp lại không?
Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, ngoại trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó được thực hiện do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Do đó, nếu một người bị hành hung và vụ việc được xác định thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, sau khi đã yêu cầu khởi tố, người này lại hoàn toàn tự nguyện làm đơn rút yêu cầu thì về nguyên tắc, họ không thể sau đó thay đổi ý kiến và tiếp tục yêu cầu khởi tố lại chính vụ án đó.
Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của hoạt động tố tụng. Nếu pháp luật cho phép bị hại có thể liên tục yêu cầu khởi tố, rút yêu cầu rồi lại yêu cầu khởi tố tùy theo ý chí tại từng thời điểm thì quá trình giải quyết vụ án có thể bị kéo dài, đồng thời ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác.
Tuy nhiên, pháp luật cũng không tuyệt đối hóa giá trị của việc rút đơn. Ý chí của bị hại chỉ được pháp luật công nhận khi đó là ý chí thực sự và tự nguyện. Nếu bị hại rút đơn vì bị đe dọa, uy hiếp, ép buộc hoặc cưỡng bức thì việc rút yêu cầu đó không thể trở thành căn cứ để người thực hiện hành vi phạm tội đương nhiên thoát khỏi quá trình tố tụng.
3. Trường hợp nào bị hại có thể yêu cầu lại sau khi đã rút đơn?
Ngoại lệ được pháp luật ghi nhận là trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu khởi tố trước đây được thực hiện do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Chẳng hạn, sau khi vụ án được khởi tố, người thực hiện hành vi gây thương tích hoặc người có liên quan đe dọa sẽ tiếp tục gây hại cho bị hại hoặc người thân nếu bị hại không rút đơn. Vì lo sợ, bị hại buộc phải ký đơn rút yêu cầu khởi tố. Trong trường hợp này, mặc dù trên phương diện hình thức đã có văn bản rút yêu cầu nhưng văn bản đó không phản ánh đúng ý chí tự nguyện của người bị hại.
Tương tự, nếu có hành vi sử dụng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc những phương thức khác khiến người bị hại không còn khả năng tự do quyết định việc tiếp tục yêu cầu xử lý hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét bản chất thực tế của việc rút đơn.
Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi có căn cứ xác định người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Như vậy, trong tình huống này, vấn đề pháp lý không nên được hiểu đơn giản là “bị hại được quyền đổi ý và nộp lại đơn”. Bản chất của quy định là pháp luật không công nhận hậu quả làm đình chỉ vụ án của một việc rút yêu cầu không tự nguyện.
4. Làm thế nào chứng minh việc rút đơn trước đây do bị ép buộc, cưỡng bức?
Đây thường là vấn đề phức tạp nhất khi bị hại muốn đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục giải quyết vụ án sau khi đã ký văn bản rút yêu cầu.
Việc một người chỉ trình bày rằng trước đây mình “bị ép phải rút đơn” chưa chắc đã đủ để cơ quan tiến hành tố tụng kết luận có hành vi ép buộc hoặc cưỡng bức. Cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá tổng thể các tài liệu, chứng cứ và diễn biến thực tế của vụ việc.
Trong thực tiễn, những tài liệu như tin nhắn có nội dung đe dọa, đoạn ghi âm cuộc nói chuyện, dữ liệu điện tử, hình ảnh, video, lời khai của người làm chứng hoặc các tài liệu khác thể hiện việc bị hại chịu sức ép trái với ý muốn có thể có giá trị trong quá trình xác minh.
Chẳng hạn, nếu trước thời điểm rút yêu cầu, bị hại liên tục nhận được tin nhắn đe dọa sẽ tiếp tục bị hành hung nếu không rút đơn, các tin nhắn này có thể trở thành nguồn thông tin quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá tính tự nguyện của việc rút yêu cầu.
Vì vậy, khi cho rằng mình đã phải rút đơn do bị ép buộc hoặc cưỡng bức, bị hại nên trình bày cụ thể hoàn cảnh, thời gian, địa điểm, người thực hiện hành vi, phương thức ép buộc và cung cấp những tài liệu đang có cho cơ quan có thẩm quyền. Việc xác định cuối cùng có đủ căn cứ chứng minh hay không thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở đánh giá chứng cứ theo quy định pháp luật.
5. Rút đơn trong vụ án cố ý gây thương tích có phải lúc nào vụ án cũng đình chỉ?
Không. Đây là nội dung rất dễ bị hiểu sai.
Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ xác định khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thuộc nhóm tội phạm được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Vì vậy, trước khi đánh giá hậu quả của việc rút đơn, phải xác định hành vi cố ý gây thương tích đang bị xem xét theo khoản nào của Điều 134.
Nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 và đáp ứng đầy đủ điều kiện của Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự thì yêu cầu của bị hại là điều kiện cần thiết để khởi tố. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu, vụ án về nguyên tắc phải được đình chỉ.
Ngược lại, nếu hành vi có đủ căn cứ bị xử lý theo khoản 2, khoản 3, khoản 4 hoặc các khoản khác của Điều 134 thì vụ án không còn thuộc phạm vi “chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại” theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi đó, dù bị hại làm đơn xin rút yêu cầu, xin miễn trách nhiệm hình sự hoặc đề nghị không xử lý người gây thương tích thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục điều tra, truy tố và xét xử nếu có đầy đủ căn cứ theo pháp luật.
Nói cách khác, đơn bãi nại hoặc đơn rút yêu cầu của bị hại không phải là căn cứ đương nhiên làm chấm dứt mọi vụ án cố ý gây thương tích.
6. Khi nào tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự?
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự điều chỉnh trường hợp người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể thuộc mức luật định hoặc tuy tỷ lệ tổn thương cơ thể thấp hơn nhưng hành vi có một trong các tình tiết được quy định tại khoản này.
Trong đó, pháp luật xem xét không chỉ tỷ lệ tổn thương cơ thể mà còn cả phương thức thực hiện hành vi, công cụ được sử dụng, đặc điểm của người bị hại, động cơ và hoàn cảnh phạm tội.
Ví dụ, việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; sử dụng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; thực hiện hành vi đối với người thuộc nhóm được pháp luật bảo vệ đặc biệt; phạm tội có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; thuê người khác gây thương tích hoặc gây thương tích do được thuê; có tính chất côn đồ hoặc thực hiện hành vi đối với người đang thi hành công vụ hay vì lý do công vụ của nạn nhân đều là những yếu tố cần được xem xét khi định tội.
Do đó, không thể chỉ nhìn vào tỷ lệ thương tích để kết luận một vụ việc có thuộc khoản 1 Điều 134 hay không. Trong thực tế, có trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng do hành vi có tình tiết mà luật quy định nên vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đồng thời, việc xác định chính xác khoản áp dụng phải dựa trên toàn bộ chứng cứ của vụ án, kết luận giám định và những tình tiết có liên quan. Đây cũng là lý do người bị hại không nên mặc nhiên cho rằng chỉ cần hai bên đã hòa giải và rút đơn thì vụ án chắc chắn sẽ được đình chỉ.
7. Đã nhận tiền bồi thường rồi rút đơn thì sau đó có yêu cầu khởi tố lại được không?
Trong nhiều vụ việc cố ý gây thương tích, sau khi xảy ra sự việc, người gây thương tích và gia đình chủ động bồi thường chi phí điều trị, thu nhập bị mất và các khoản thiệt hại khác cho bị hại. Hai bên sau đó thỏa thuận hòa giải và bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố.
Nếu vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại và việc rút đơn được thực hiện hoàn toàn tự nguyện thì việc bị hại sau đó không hài lòng với thỏa thuận hoặc thay đổi ý định nhìn chung không làm phát sinh trở lại quyền yêu cầu khởi tố.
Chẳng hạn, A gây thương tích cho B trong trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134. B đã yêu cầu khởi tố nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau đó A bồi thường theo thỏa thuận và B tự nguyện rút yêu cầu khởi tố. Nếu vụ án được đình chỉ theo quy định, việc một thời gian sau B cho rằng số tiền bồi thường chưa thỏa đáng và muốn yêu cầu xử lý hình sự lại A sẽ phải đối diện với giới hạn tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, nếu B chứng minh được việc ký đơn rút yêu cầu là kết quả của hành vi ép buộc hoặc cưỡng bức thì vấn đề sẽ được xem xét theo ngoại lệ mà pháp luật quy định.
8. Hòa giải và rút yêu cầu khởi tố có phải là một việc không?
Hai vấn đề này có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Hòa giải thường phản ánh việc các bên đạt được sự thống nhất nhất định về việc xin lỗi, bồi thường hoặc giải quyết hậu quả của hành vi. Trong khi đó, rút yêu cầu khởi tố là hành vi tố tụng của người trước đó đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc phạm vi Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do đó, việc hai bên đã hòa giải không đồng nghĩa trong mọi trường hợp vụ án hình sự phải chấm dứt. Tương tự, một văn bản có nội dung “không yêu cầu bồi thường thêm” cũng không nhất thiết đồng nghĩa với việc người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố.
Cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào nội dung, ý chí thực tế của người bị hại và các quy định của pháp luật để xác định giá trị pháp lý của từng văn bản.
9. Đơn bãi nại có giống đơn rút yêu cầu khởi tố không?
Trong đời sống, thuật ngữ “đơn bãi nại” được sử dụng khá phổ biến. Người dân thường hiểu đây là văn bản xác nhận hai bên đã hòa giải và người bị hại không muốn tiếp tục yêu cầu xử lý người gây thiệt hại.
Tuy nhiên, khi xem xét hậu quả tố tụng, cơ quan có thẩm quyền không chỉ căn cứ vào tên gọi của văn bản mà quan trọng hơn là nội dung thể hiện ý chí của người lập văn bản.
Nếu văn bản thể hiện rõ người đã yêu cầu khởi tố nay tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với vụ án thuộc Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở xem xét hậu quả pháp lý theo quy định về rút yêu cầu khởi tố.
Ngược lại, nếu văn bản chỉ xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường hoặc đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội thì chưa thể mặc nhiên coi đó là việc rút yêu cầu khởi tố.
Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng trong các vụ án cố ý gây thương tích bởi ý chí của bị hại có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp tục hay đình chỉ tố tụng nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 134.
10. Bị hại rút đơn ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử có được không?
Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự không giới hạn việc rút yêu cầu chỉ được thực hiện trước khi khởi tố hoặc trong giai đoạn điều tra. Quy định xác định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thể phải xem xét vấn đề này tùy theo thời điểm vụ án đang được giải quyết.
Điều đó có nghĩa rằng, đối với vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu có thể phát sinh trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Khi đủ điều kiện luật định và việc rút yêu cầu là tự nguyện, cơ quan đang giải quyết vụ án sẽ xem xét việc đình chỉ theo thẩm quyền.
Tuy nhiên, trước khi rút yêu cầu, bị hại cần nhận thức rõ hậu quả pháp lý quan trọng là sau khi đã tự nguyện rút thì về nguyên tắc không được yêu cầu lại.
11. Người bị hại chưa từng yêu cầu khởi tố thì có được làm đơn sau không?
Cần phân biệt trường hợp này với trường hợp “đã yêu cầu rồi rút yêu cầu”.
Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự hạn chế quyền yêu cầu lại của người đã rút yêu cầu khởi tố. Vì vậy, về mặt pháp lý, trường hợp một người chưa từng đưa ra yêu cầu khởi tố cần được đánh giá khác với trường hợp đã chính thức yêu cầu rồi sau đó rút lại.
Đồng thời, việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu còn phụ thuộc vào tình trạng tố tụng của vụ việc, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ khởi tố và những vấn đề pháp lý khác. Do đó, trong từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra hồ sơ để xác định chính xác quyền của người bị hại.
12. Căn cứ nào để cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?
Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự, một vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm.
Dấu hiệu tội phạm có thể được phát hiện từ tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc trường hợp người phạm tội tự thú.
Như vậy, đơn của người bị hại không phải là nguồn duy nhất để một hành vi có dấu hiệu tội phạm được cơ quan chức năng biết đến. Tuy nhiên, đối với những tội thuộc Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, ngoài việc có dấu hiệu tội phạm, còn phải có yêu cầu hợp lệ của chủ thể được pháp luật trao quyền thì vụ án mới có thể được khởi tố.
13. Khi nào không được khởi tố vụ án hình sự?
Bên cạnh căn cứ khởi tố, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định các trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự.
Về bản chất, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố nếu xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi xảy ra không cấu thành tội phạm. Tương tự, những trường hợp người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thuộc những căn cứ loại trừ việc khởi tố khác theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng phải được xem xét theo quy định.
Đáng chú ý, đối với những tội thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc bị hại hoặc người đại diện hợp pháp thuộc trường hợp luật định không yêu cầu khởi tố cũng là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố vụ án.
Điều này một lần nữa cho thấy pháp luật tố tụng hình sự phân biệt rất rõ giữa nhóm tội phạm được xử lý theo nguyên tắc chung và nhóm tội phạm mà việc khởi tố phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại.
14. Bị hại rút đơn thì người gây thương tích có chắc chắn không bị xử lý hình sự?
Không thể kết luận chỉ dựa vào việc có đơn rút yêu cầu.
Trước hết, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác hành vi thuộc khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nếu chỉ thuộc khoản 1 và vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì việc tự nguyện rút yêu cầu có thể dẫn đến đình chỉ vụ án theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ngược lại, nếu quá trình điều tra xác định hành vi thực tế thuộc một khoản khác của Điều 134 mà không phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại thì việc rút đơn không đương nhiên làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
Hơn nữa, trong một vụ việc có thể xuất hiện dấu hiệu của nhiều hành vi hoặc nhiều tội phạm khác nhau. Việc rút yêu cầu đối với tội thuộc phạm vi Điều 155 không đồng nghĩa cơ quan tố tụng phải bỏ qua những dấu hiệu tội phạm khác nếu có căn cứ xử lý theo pháp luật.
15. Rút yêu cầu khởi tố có làm mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không?
Trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hai vấn đề pháp lý có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Người gây thương tích cho người khác có thể phải bồi thường các thiệt hại phát sinh theo quy định của pháp luật dân sự, chẳng hạn chi phí hợp lý cho việc cứu chữa và phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị, khoản bù đắp tổn thất về tinh thần cùng những thiệt hại hợp pháp khác nếu có căn cứ.
Vì vậy, việc vụ án hình sự được đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố không nên được hiểu một cách máy móc rằng mọi quan hệ về bồi thường cũng tự động chấm dứt.
Tuy nhiên, nếu hai bên đã ký thỏa thuận bồi thường, xác nhận đã thanh toán đầy đủ hoặc có thỏa thuận giải quyết toàn bộ hậu quả thì quyền tiếp tục yêu cầu của mỗi bên phải được đánh giá dựa trên nội dung cụ thể của thỏa thuận và quy định pháp luật dân sự có liên quan.
16. Bị hại cần cân nhắc gì trước khi ký đơn rút yêu cầu khởi tố?
Do hậu quả của việc rút yêu cầu có thể rất lớn, bị hại không nên ký đơn chỉ dựa trên lời hứa rằng người gây thương tích sẽ bồi thường trong tương lai.
Trước khi quyết định, cần xác định rõ mức bồi thường, phương thức và thời hạn thanh toán, những nghĩa vụ còn lại của các bên cũng như tình trạng thực tế của vụ án. Đặc biệt, bị hại cần hiểu rằng nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 và việc rút yêu cầu được xác định là hoàn toàn tự nguyện thì sau đó họ không thể đơn giản thay đổi ý kiến và yêu cầu khởi tố lại.
Nếu các bên thỏa thuận bồi thường theo nhiều đợt, nội dung thỏa thuận nên được thể hiện rõ ràng bằng văn bản để hạn chế tranh chấp. Trong những vụ việc có giá trị bồi thường lớn hoặc tình tiết phức tạp, việc tham khảo ý kiến của luật sư trước khi ký văn bản rút yêu cầu có thể giúp các bên nhận diện đầy đủ hậu quả pháp lý.
17. Nếu bị ép rút đơn, bị hại nên làm gì?
Khi bị đe dọa, ép buộc hoặc cưỡng bức nhằm buộc phải rút yêu cầu khởi tố, bị hại nên sớm thông báo cho cơ quan đang giải quyết vụ án về tình trạng này và cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan.
Nội dung trình bày nên làm rõ thời điểm xảy ra hành vi ép buộc, người thực hiện, cách thức đe dọa hoặc cưỡng bức, những người chứng kiến và các tài liệu có thể kiểm chứng. Nếu có tin nhắn, dữ liệu điện tử, hình ảnh, video, ghi âm hoặc tài liệu khác thì cần bảo quản để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định.
Quan trọng hơn, bị hại không nên vì cho rằng “đã ký đơn thì không còn cách nào” mà không phản ánh sự việc. Chính Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự đã dự liệu ngoại lệ đối với trường hợp việc rút yêu cầu không xuất phát từ ý chí tự nguyện.
18. Một số câu hỏi thường gặp về việc rút đơn trong vụ án cố ý gây thương tích
Rút đơn tố cáo có giống rút yêu cầu khởi tố không?
Không nhất thiết. Tố giác, tố cáo về hành vi có dấu hiệu tội phạm và yêu cầu khởi tố theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự là những vấn đề cần được phân biệt. Muốn xác định hậu quả pháp lý phải xem nội dung thực tế của đơn và vụ án có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không.
Đã rút đơn rồi đổi ý ngay ngày hôm sau có được yêu cầu lại không?
Nếu người bị hại đã thực sự rút yêu cầu khởi tố một cách tự nguyện thì khoản 3 Điều 155 quy định họ không có quyền yêu cầu lại. Việc thời gian thay đổi ý kiến chỉ là một ngày hay nhiều tháng không phải yếu tố làm thay đổi nguyên tắc này.
Gia đình người gây thương tích ép bị hại rút đơn thì có được xử lý tiếp không?
Nếu có căn cứ chứng minh việc rút yêu cầu trái với ý muốn của bị hại do bị ép buộc hoặc cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục giải quyết vụ án theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị hại nhận tiền bồi thường có đồng nghĩa với việc rút đơn không?
Không. Việc nhận bồi thường và việc rút yêu cầu khởi tố là hai vấn đề khác nhau. Cần xem xét nội dung thỏa thuận, văn bản mà bị hại đã ký và ý chí cụ thể được thể hiện trong hồ sơ.
Thương tích dưới 11% thì có bị khởi tố không?
Có thể. Tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải tiêu chí duy nhất để xác định trách nhiệm hình sự. Nếu tỷ lệ dưới 11% nhưng hành vi thuộc một trong những trường hợp được Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định thì người thực hiện hành vi vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo có giống rút đơn không?
Không. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt thể hiện mong muốn Tòa án xem xét giảm mức độ trách nhiệm cho bị cáo, trong khi rút yêu cầu khởi tố trong vụ án thuộc Điều 155 có thể dẫn đến đình chỉ vụ án. Hai hành vi có hậu quả tố tụng khác nhau.
19. Kết luận
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, bị hại đã tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án về tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì về nguyên tắc không có quyền yêu cầu khởi tố lại. Ngoại lệ được đặt ra khi có căn cứ chứng minh việc rút yêu cầu trước đó xuất phát từ việc bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng cơ chế rút yêu cầu khởi tố không áp dụng cho tất cả các vụ án cố ý gây thương tích. Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ đặt điều kiện yêu cầu của bị hại đối với trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134. Nếu hành vi bị xử lý theo khoản khác của Điều 134 thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể tiếp tục giải quyết vụ án dù bị hại đã hòa giải, nhận bồi thường hoặc có đơn đề nghị không xử lý người gây thương tích.
Do đó, trước khi ký đơn rút yêu cầu khởi tố, người bị hại cần xem xét kỹ tình trạng pháp lý của vụ án, nội dung thỏa thuận bồi thường và hậu quả của việc rút yêu cầu. Đối với vụ việc phức tạp hoặc có dấu hiệu bị đe dọa, ép buộc, việc tham vấn luật sư và kịp thời cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền là cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất cung cấp thông tin pháp lý tham khảo. Việc áp dụng pháp luật đối với từng vụ việc cụ thể phụ thuộc vào hồ sơ, chứng cứ, thời điểm thực hiện hành vi và kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền.
Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org
LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi
LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org
Website: www.LuatsuQuangNgai.org www.LCAlawfirm.vn www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org
Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca
Công ty Luật LCA : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai


