Không giao con sau ly hôn theo bản án có bị phạt tù không? Quy định mới nhất 2026

Sau khi ly hôn, bản án của Tòa án đã có hiệu lực xác định cha hoặc mẹ là người trực tiếp nuôi con nhưng người còn lại vẫn giữ con, không chịu giao con thì xử lý thế nào? Có phải cứ không giao con là bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án hay không? Người được quyền nuôi con phải làm gì để yêu cầu thi hành bản án?

Trên thực tế, đây là một trong những tình huống khá phức tạp trong quá trình thi hành bản án ly hôn. Không ít trường hợp Tòa án đã giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nhưng người đang giữ con cố tình trì hoãn, đưa con đi nơi khác, né tránh cơ quan thi hành án hoặc viện dẫn lý do con không muốn về sống với người được Tòa án giao nuôi.

Pháp luật không cho phép một bên tự ý vô hiệu hóa nội dung bản án đã có hiệu lực. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ chậm hoặc không giao con một lần là đương nhiên bị phạt tù. Việc xử lý phải căn cứ vào trình tự thi hành án và các dấu hiệu cấu thành tội không chấp hành án theo pháp luật hình sự.

Bài viết dưới đây phân tích quy định mới nhất năm 2026 về việc thi hành bản án giao con sau ly hôn, thủ tục cưỡng chế giao con và trách nhiệm pháp lý của người cố tình không chấp hành.

Không giao con sau ly hôn theo bản án có bị phạt tù không?
Không giao con sau ly hôn theo bản án có bị phạt tù không?

1. Bản án giao quyền nuôi con sau ly hôn có bắt buộc phải chấp hành không?

Khi giải quyết ly hôn có tranh chấp về con chung, Tòa án có thể xác định người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Khi bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện đúng nội dung đã được tuyên.

Ví dụ, bản án xác định:

“Giao cháu A cho ông B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi…”

thì về nguyên tắc, người đang giữ cháu A phải thực hiện nghĩa vụ giao con theo bản án. Việc người này không đồng ý với kết quả xét xử không phải là căn cứ để tự ý từ chối thi hành một bản án đã có hiệu lực.

Nếu cho rằng người được giao trực tiếp nuôi con hiện không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng hoặc việc tiếp tục giao con cho người đó không bảo đảm quyền lợi của trẻ thì bên còn lại phải sử dụng cơ chế pháp lý phù hợp, chẳng hạn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ.

Không nên tự giải quyết bằng cách giữ con trái với nội dung bản án đang có hiệu lực.

2. Cha được Tòa giao nuôi con nhưng mẹ không giao con thì phải làm sao?

Trường hợp bản án đã có hiệu lực xác định cha là người trực tiếp nuôi con nhưng người mẹ vẫn giữ con, người cha không nên tự ý đến giành con, dùng vũ lực hoặc tổ chức người đến đưa con đi.

Ngược lại, nếu Tòa giao con cho mẹ nhưng người cha đang giữ con không chịu giao thì người mẹ cũng nên thực hiện thủ tục thi hành án thay vì tự mình sử dụng biện pháp cưỡng ép.

Người được giao quyền trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành nội dung bản án.

Từ ngày 01/7/2026, trình tự thi hành án dân sự được thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự 2025.

Đây là điểm rất quan trọng đối với những bài viết pháp lý về vấn đề này trong năm 2026 bởi các hướng dẫn dựa hoàn toàn vào Luật Thi hành án dân sự cũ không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

3. Thủ tục cưỡng chế giao con sau ly hôn mới nhất 2026

Điều 93 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định riêng về cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định.

Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất cần áp dụng đối với trường hợp một bên cố tình không giao con theo bản án hiện nay.

Bước 1: Yêu cầu thi hành bản án giao con

Người được Tòa án giao trực tiếp nuôi con nhưng chưa nhận được con cần thực hiện quyền yêu cầu thi hành án theo quy định.

Khi thực hiện, người yêu cầu nên chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên quan, đặc biệt là bản án hoặc quyết định của Tòa án và thông tin về người phải thi hành án, nơi người đó và con đang cư trú nếu có.

Trong quá trình này, người được thi hành án nên cung cấp đầy đủ thông tin mà mình biết để cơ quan thi hành án có căn cứ tổ chức thi hành.

Bước 2: Thuyết phục bên đang giữ con tự nguyện giao con

Việc thi hành nghĩa vụ giao trẻ em có tính chất đặc biệt so với việc cưỡng chế giao tài sản.

Điều 93 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định trước khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức và cá nhân có liên quan để thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.

Quy định này có ý nghĩa rất lớn bởi đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng trong quá trình thi hành án là trẻ em.

Do đó, mục tiêu không chỉ là buộc một người thực hiện nghĩa vụ mà còn phải hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến tâm lý và đời sống của trẻ.

Bước 3: Ra quyết định cưỡng chế giao con

Nếu việc thuyết phục không đạt kết quả và có căn cứ thực hiện cưỡng chế, Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng.

Khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên thực hiện việc giao con.

Đây là điểm mới đặc biệt cần lưu ý khi tư vấn và xử lý các vụ việc phát sinh từ ngày Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực.

Bước 4: Hết 05 ngày vẫn không giao con thì xử lý thế nào?

Nếu hết thời hạn đã được ấn định mà người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ trẻ vẫn không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì hậu quả pháp lý trở nên nghiêm trọng hơn.

Theo khoản 2 Điều 93 Luật Thi hành án dân sự 2025, trong trường hợp này, Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Như vậy, pháp luật hiện hành đã thiết lập một trình tự tương đối rõ đối với trường hợp cố tình không giao con theo bản án.

4. Không giao con theo bản án có đương nhiên bị truy cứu hình sự không?

Không.

Đây là vấn đề cần đặc biệt thận trọng khi giải thích quy định pháp luật.

Không nên hiểu rằng chỉ cần bản án giao con cho cha nhưng mẹ chưa giao con, hoặc ngược lại, thì ngay lập tức người đang giữ con đã phạm tội không chấp hành án.

Điều 380 Bộ luật Hình sự quy định về Tội không chấp hành án với những điều kiện cụ thể.

Theo đó, trách nhiệm hình sự đặt ra đối với người:

  • Có điều kiện chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
  • Nhưng không chấp hành;
  • Và đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Do đó, để xác định một người có phạm tội hay không phải đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và toàn bộ diễn biến thi hành án.

Không thể chỉ căn cứ vào việc “chưa giao con” để khẳng định ngay người đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

5. Không giao con theo bản án có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?

Nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành Tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự thì người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

5.1. Khung hình phạt cơ bản: từ 03 tháng đến 02 năm tù

Người có điều kiện nhưng không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, có thể bị:

Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, đối với việc giao con sau ly hôn, việc người phải thi hành án đã trải qua quá trình tổ chức thi hành, có điều kiện giao con nhưng cố tình không thực hiện là tình tiết rất quan trọng khi xem xét trách nhiệm hình sự.

5.2. Trường hợp có tình tiết tăng nặng định khung: từ 02 năm đến 05 năm tù

Khoản 2 Điều 380 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 05 năm tù nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

  • Chống lại Chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ;
  • Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
  • Tẩu tán tài sản.

Đối với vụ việc giao con, tình tiết “tẩu tán tài sản” thường không phải vấn đề trực tiếp liên quan, nhưng các tình tiết khác vẫn phải được xem xét nếu thực tế có phát sinh.

Ví dụ, nếu trong quá trình tổ chức thi hành án, người phải thi hành án có hành vi chống lại Chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ thì vụ việc có thể được đánh giá theo khung hình phạt tương ứng nếu đầy đủ các yếu tố pháp luật quy định.

5.3. Có thể bị phạt tiền bổ sung

Ngoài hình phạt tù, Điều 380 Bộ luật Hình sự còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Cần lưu ý đây là hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với người đã bị xác định phạm tội; không nên nhầm với tiền phạt vi phạm hành chính trong quá trình thi hành án.

6. Có phải cứ không giao con là bị phạt từ 03 tháng đến 05 năm tù?

Cách diễn đạt “không giao con theo bản án sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm” là chưa thực sự chính xác về kỹ thuật pháp lý.

Điều 380 có hai khung hình phạt khác nhau.

Khung cơ bản là từ 03 tháng đến 02 năm tù. Khung từ 02 năm đến 05 năm chỉ áp dụng khi có một trong những tình tiết định khung được quy định tại khoản 2 Điều 380.

Đồng thời, trước khi nói đến hình phạt còn phải xác định hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội không chấp hành án hay chưa.

Vì vậy, cách giải thích chính xác hơn là:

Người cố tình không giao con theo bản án đã có hiệu lực có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Khung hình phạt cơ bản là từ 03 tháng đến 02 năm tù; trường hợp có tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 380 thì có thể bị phạt từ 02 năm đến 05 năm tù.

7. Không giao con có thể bị xử phạt vi phạm hành chính không?

Có thể, tùy hành vi và giai đoạn xử lý.

Tuy nhiên, một điểm đặc biệt quan trọng đối với các bài viết pháp luật năm 2026 là không còn sử dụng Nghị định 82/2020/NĐ-CP như căn cứ xử phạt hiện hành.

Nghị định 82/2020/NĐ-CP trước đây quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự và một số lĩnh vực khác.

Từ ngày 18/5/2026, Nghị định này đã được thay thế bởi Nghị định 109/2026/NĐ-CP.

Do đó, các bài viết tiếp tục dẫn khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP để khẳng định mức phạt hiện hành đối với hành vi không thực hiện công việc phải làm theo bản án cần được cập nhật theo hệ thống quy định mới.

Đối với một vụ việc cụ thể, cần xác định thời điểm xảy ra hành vi, thời điểm xử lý, quy định chuyển tiếp và hành vi cụ thể để xác định căn cứ xử phạt phù hợp.

8. Luật Thi hành án dân sự 2025 thay đổi gì đối với việc cưỡng chế giao con?

Trước ngày 01/7/2026, thủ tục thi hành án dân sự được thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự 2008 và các luật sửa đổi, bổ sung.

Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành án dân sự 2025 có hiệu lực và Luật Thi hành án dân sự cũ hết hiệu lực, trừ trường hợp chuyển tiếp mà luật quy định.

Đối với việc giao người chưa thành niên, Điều 93 Luật mới quy định khá rõ trình tự:

  1. Chấp hành viên phối hợp với UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân liên quan thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành;
  2. Nếu phải cưỡng chế, Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế;
  3. Ấn định 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án hoặc người đang giữ trẻ giao trẻ;
  4. Hết thời hạn vẫn không giao thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Quy định này cho thấy pháp luật không chỉ bảo đảm hiệu lực của bản án mà còn dành một khoảng thời gian và cơ chế thuyết phục để người đang giữ trẻ tự nguyện thực hiện trước khi hậu quả pháp lý nghiêm trọng hơn được đặt ra.

9. Người đang giữ con nói “con không muốn về với cha/mẹ” thì có được từ chối giao không?

Đây là tình huống rất thường gặp trong thực tế.

Việc trẻ có nguyện vọng sống với cha hoặc mẹ là yếu tố có thể có ý nghĩa trong quá trình Tòa án giải quyết vấn đề người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi đã có bản án có hiệu lực xác định người trực tiếp nuôi dưỡng thì một bên không thể chỉ dựa vào lời trình bày rằng “con không muốn đi” để tự mình tuyên bố không thi hành bản án.

Nếu sau bản án xuất hiện những tình tiết mới cho thấy việc tiếp tục giao con cho người đang được quyền nuôi không còn bảo đảm quyền lợi của trẻ, bên còn lại có thể xem xét yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ.

Cho đến khi có quyết định pháp lý khác làm thay đổi nội dung đang phải thi hành, bản án có hiệu lực vẫn phải được tôn trọng và thi hành theo quy định.

10. Có được giấu con hoặc đưa con đi nơi khác để không phải giao con không?

Việc cố tình thay đổi nơi ở, che giấu thông tin, đưa con đi nơi khác hoặc thực hiện những hành vi nhằm cản trở quá trình thi hành án có thể khiến vụ việc trở nên phức tạp hơn.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét bản chất, mục đích, mức độ và hậu quả của từng hành vi cụ thể.

Đặc biệt, nếu hành vi thể hiện ý thức cố tình không chấp hành bản án trong khi người đó có điều kiện thực hiện và đã trải qua các biện pháp xử lý theo quy định thì nguy cơ bị xem xét trách nhiệm pháp lý sẽ cao hơn.

Do đó, nếu không đồng ý với việc người kia tiếp tục trực tiếp nuôi con, giải pháp phù hợp không phải là đưa con đi trốn mà là thực hiện thủ tục yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo pháp luật.

11. Không giao con vì cho rằng người được quyền nuôi không chăm sóc tốt thì xử lý thế nào?

Giả sử bản án giao con cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng nhưng sau đó người mẹ phát hiện người cha thường xuyên bỏ mặc con, không chăm sóc, có hành vi bạo lực hoặc xuất hiện những tình tiết khác có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của trẻ.

Trong trường hợp này, người mẹ cần thu thập chứng cứ và sử dụng các cơ chế pháp lý thích hợp để bảo vệ trẻ.

Nếu có căn cứ theo Luật Hôn nhân và gia đình, người mẹ có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Trường hợp có hành vi xâm hại, bạo lực hoặc nguy cơ trực tiếp đối với trẻ thì có thể cần thông báo cho cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp.

Điều quan trọng là phải phân biệt giữa bảo vệ trẻ trong tình huống có nguy cơ thực tế với việc lấy lý do chủ quan để kéo dài hoặc cố tình không thi hành bản án.

12. Nếu muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con thì phải làm sao?

Sau khi ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con không phải là vấn đề bất biến trong mọi trường hợp.

Luật Hôn nhân và gia đình cho phép thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn khi có căn cứ luật định.

Ví dụ, các bên có thể thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu phù hợp với lợi ích của con; hoặc người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

Do đó, nếu bên đang không được quyền trực tiếp nuôi con cho rằng hoàn cảnh đã thay đổi và mình có căn cứ để nhận nuôi con thì nên thực hiện thủ tục tại Tòa án.

Việc tự giữ con trái với bản án hiện hành không phải là cách hợp pháp để thay đổi người trực tiếp nuôi con.

13. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội không chấp hành án

Điều 380 Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của hình phạt đối với tội không chấp hành án là 05 năm tù.

Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải căn cứ Điều 27 và quy định về phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự.

Đối với khung hình phạt có mức cao nhất là 05 năm tù, đây thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng theo cách phân loại của Bộ luật Hình sự.

Theo đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng là 10 năm.

Tuy nhiên, việc tính thời hiệu trong từng vụ việc còn phải căn cứ thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và các quy định khác của Bộ luật Hình sự về cách tính thời hiệu. Vì vậy, không nên hiểu đơn giản rằng mọi trường hợp không giao con đều mặc nhiên có “thời hạn xử lý 10 năm”.

14. Người được Tòa án giao nuôi con nên làm gì khi bên kia không giao con?

Trong thực tế, người được thi hành án nên thực hiện theo hướng sau:

  1. Kiểm tra hiệu lực của bản án: Xác định bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực và nội dung giao con được tuyên cụ thể như thế nào.
  2. Lưu giữ chứng cứ: Tin nhắn, ghi nhận việc yêu cầu giao con, thông tin về nơi con đang sinh sống và các tài liệu liên quan.
  3. Yêu cầu thi hành án: Thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền theo Luật Thi hành án dân sự.
  4. Phối hợp với Chấp hành viên: Cung cấp thông tin cần thiết và tham gia quá trình tổ chức thi hành theo yêu cầu.
  5. Không tự ý sử dụng vũ lực: Không giằng co, bắt con hoặc gây xô xát với bên còn lại.
  6. Yêu cầu xử lý khi có hành vi cố tình chống đối: Nếu bên phải thi hành án vẫn không thực hiện sau khi đã áp dụng trình tự pháp luật thì cơ quan thi hành án sẽ xử lý theo thẩm quyền.

15. Kết luận

Khi bản án ly hôn đã có hiệu lực xác định cha hoặc mẹ là người trực tiếp nuôi con, bên còn lại có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện bản án. Việc cố tình giữ con, không giao con không phải là phương thức hợp pháp để phản đối quyết định của Tòa án.

Theo quy định mới tại Điều 93 Luật Thi hành án dân sự 2025, trước khi cưỡng chế, Chấp hành viên phối hợp với UBND cấp xã và các tổ chức, cá nhân liên quan để thuyết phục tự nguyện thi hành. Khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên ấn định thời hạn 05 ngày làm việc để giao người chưa thành niên. Nếu hết thời hạn mà vẫn không giao thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng không phải mọi trường hợp không giao con đều đương nhiên cấu thành tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải căn cứ đầy đủ các dấu hiệu được quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự.

Nếu đủ yếu tố cấu thành tội không chấp hành án, người vi phạm có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm; trường hợp có các tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 380 thì mức hình phạt có thể từ 02 năm đến 05 năm tù, đồng thời có thể bị áp dụng hình phạt tiền bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Đối với người được Tòa án giao trực tiếp nuôi con, khi bên còn lại không chịu giao con, phương án phù hợp là thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án và phối hợp với cơ quan thi hành án, thay vì tự ý sử dụng vũ lực hoặc giằng co để đưa trẻ về.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560