Xác định hôn nhân thực tế và quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng trong pháp luật Việt Nam

Mục lục

Trong thực tế, không phải mọi quan hệ vợ chồng đều được xác lập bằng Giấy chứng nhận kết hôn. Do hoàn cảnh lịch sử, chiến tranh, điều kiện quản lý hộ tịch và nhận thức pháp luật ở từng thời kỳ, có những trường hợp nam nữ đã tổ chức cưới, chung sống, sinh con và tạo lập tài sản chung trong nhiều năm nhưng không đăng ký kết hôn.

Những quan hệ này thường được gọi là “hôn nhân thực tế”. Tuy nhiên, không phải cứ sống chung lâu năm, có con chung hoặc được gia đình thừa nhận thì đương nhiên trở thành vợ chồng hợp pháp. Giá trị pháp lý của quan hệ phụ thuộc đặc biệt vào thời điểm bắt đầu chung sống, điều kiện kết hôn của các bên và việc có đăng ký kết hôn trong thời hạn chuyển tiếp hay không.

Bên cạnh đó, trong một số hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, có trường hợp một người đồng thời tồn tại quan hệ với nhiều người vợ hoặc nhiều người chồng. Pháp luật Việt Nam hiện nay không thừa nhận chế độ đa thê, đa phu, nhưng vẫn có các quy định chuyển tiếp nhằm giải quyết quyền nhân thân, tài sản và thừa kế đối với những quan hệ đã hình thành từ lịch sử.

Bài viết dưới đây phân tích cách xác định hôn nhân thực tế, hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc chung sống, quyền của con chung, việc phân chia tài sản và cách xử lý các quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng trong những trường hợp đặc biệt.


Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP;
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP;
  • Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao;
  • Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Án lệ số 53/2022/AL;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung;
  • Các văn bản xử phạt vi phạm hành chính có liên quan.

1. Hôn nhân thực tế là gì?

“Hôn nhân thực tế” là cách gọi được sử dụng phổ biến trong thực tiễn xét xử và nghiên cứu pháp lý để chỉ quan hệ nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng trong một số trường hợp lịch sử vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành không quy định “hôn nhân thực tế” là một hình thức kết hôn độc lập. Nguyên tắc chung hiện nay là:

  • Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý;
  • Lễ cưới, thời gian chung sống, con chung hoặc tài sản chung không thay thế thủ tục đăng ký kết hôn;
  • Chỉ những trường hợp chuyển tiếp do pháp luật quy định mới được xem xét công nhận quan hệ vợ chồng dù không có đăng ký.

Do đó, cần phân biệt giữa:

  • Quan hệ chung sống được pháp luật chuyển tiếp công nhận là vợ chồng;
  • Quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không được công nhận là vợ chồng;
  • Quan hệ kết hôn đã đăng ký hợp pháp;
  • Quan hệ kết hôn trái pháp luật;
  • Quan hệ vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

2. Thế nào là chung sống với nhau như vợ chồng?

Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2001, nam và nữ được xem là chung sống với nhau như vợ chồng khi họ có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật tại thời điểm cần xem xét và thuộc ít nhất một trong các trường hợp sau:

  • Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống;
  • Việc chung sống được gia đình một bên hoặc cả hai bên chấp nhận;
  • Việc chung sống được người khác hoặc tổ chức chứng kiến;
  • Hai bên thực sự chung sống, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng xây dựng gia đình.

Không bắt buộc phải đồng thời có đầy đủ tất cả các dấu hiệu trên. Tuy nhiên, người yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ vợ chồng phải cung cấp chứng cứ đủ để chứng minh việc chung sống có tính chất gia đình, công khai và ổn định.

Các chứng cứ thường được sử dụng gồm:

  • Ảnh, video hoặc thiệp cưới;
  • Xác nhận của gia đình, họ hàng, hàng xóm;
  • Giấy khai sinh của con có tên cả cha và mẹ;
  • Thông tin cư trú chung;
  • Sổ hộ khẩu cũ;
  • Hồ sơ cán bộ, lý lịch, hồ sơ đảng viên;
  • Giấy tờ kê khai quan hệ vợ chồng;
  • Tài liệu về việc tạo lập tài sản chung;
  • Thư từ, hình ảnh, tài liệu sinh hoạt gia đình;
  • Lời khai của người làm chứng;
  • Các giấy tờ khác thể hiện hai bên được xã hội nhìn nhận là vợ chồng.

3. Có con chung, tài sản chung thì có được công nhận là vợ chồng không?

Không đương nhiên.

Việc có con chung, tài sản chung hoặc sống chung trong thời gian dài là chứng cứ quan trọng để chứng minh việc chung sống như vợ chồng, nhưng không tự mình làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Ví dụ, một đôi nam nữ bắt đầu chung sống từ năm 2010, có hai con và cùng mua nhà nhưng không đăng ký kết hôn. Khi chia tay, họ không được công nhận là vợ chồng chỉ vì đã chung sống lâu năm.

Tòa án sẽ:

  • Tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng;
  • Giải quyết quyền, nghĩa vụ đối với con như trường hợp cha mẹ ly hôn;
  • Giải quyết tài sản theo thỏa thuận hoặc theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Xem xét công sức đóng góp, ưu tiên bảo vệ phụ nữ và con;
  • Giải quyết nghĩa vụ chung theo pháp luật dân sự.

4. Các giai đoạn xác định giá trị pháp lý của việc chung sống

Thời điểm bắt đầu chung sống là căn cứ quan trọng nhất. Có thể chia thành ba giai đoạn:

  • Chung sống trước ngày 03/01/1987;
  • Chung sống từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001;
  • Chung sống từ ngày 01/01/2001 trở đi.

5. Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987

Ngày 03/01/1987 là ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực.

Đối với nam nữ xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng trước thời điểm này, chưa đăng ký kết hôn nhưng có đủ điều kiện kết hôn, pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng kể từ ngày bắt đầu chung sống.

5.1. Điều kiện được công nhận

Thông thường cần chứng minh:

  • Hai bên bắt đầu chung sống trước ngày 03/01/1987;
  • Có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật áp dụng;
  • Việc chung sống có tính chất vợ chồng;
  • Không thuộc trường hợp vi phạm điều cấm;
  • Quan hệ chưa bị chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực.

5.2. Có bắt buộc đăng ký kết hôn bổ sung không?

Không bắt buộc để quan hệ được công nhận.

Nhà nước khuyến khích các bên đăng ký kết hôn nhằm hoàn thiện hồ sơ hộ tịch, nhưng việc chưa đăng ký không làm mất tư cách vợ chồng nếu quan hệ đã đủ điều kiện được công nhận theo quy định chuyển tiếp.

5.3. Muốn chấm dứt quan hệ phải làm gì?

Do quan hệ được pháp luật công nhận là hôn nhân, một bên không thể chỉ tự tuyên bố chia tay rồi kết hôn với người khác.

Nếu muốn chấm dứt quan hệ, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Tòa án sẽ giải quyết:

  • Quan hệ hôn nhân;
  • Quyền nuôi con;
  • Cấp dưỡng;
  • Tài sản chung;
  • Nợ chung;
  • Các quyền, nghĩa vụ khác như đối với vợ chồng hợp pháp.

5.4. Có được kết hôn với người khác khi chưa ly hôn không?

Không. Người đang trong quan hệ hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận vẫn được xác định là người đang có vợ hoặc có chồng.

Nếu đăng ký kết hôn với người khác khi quan hệ trước chưa chấm dứt thì việc kết hôn sau có thể bị xác định là trái pháp luật và bị yêu cầu hủy.


6. Chung sống từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001

Đây là giai đoạn chuyển tiếp có cách xử lý phức tạp hơn.

Pháp luật không công nhận vô điều kiện tất cả các quan hệ chung sống trong giai đoạn này. Các bên được dành một thời hạn để đăng ký kết hôn, từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 01/01/2003.

6.1. Đã đăng ký kết hôn trong thời hạn chuyển tiếp

Nếu hai bên đăng ký kết hôn trong thời hạn chuyển tiếp thì quan hệ vợ chồng được công nhận kể từ ngày họ bắt đầu chung sống như vợ chồng, không chỉ từ ngày được cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Ví dụ, ông A và bà B bắt đầu chung sống năm 1995, đăng ký kết hôn vào tháng 6/2002. Quan hệ vợ chồng của họ được xem xét công nhận từ năm 1995.

Việc xác định thời điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với:

  • Xác định tài sản chung;
  • Xác định con chung;
  • Xác định nghĩa vụ chung;
  • Quyền thừa kế giữa vợ chồng;
  • Giải quyết giao dịch được xác lập trong thời kỳ chung sống;
  • Xác định hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

6.2. Yêu cầu ly hôn trong thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003

Nếu trong thời hạn đăng ký chuyển tiếp mà một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn, Tòa án vẫn thụ lý và áp dụng quy định về ly hôn để giải quyết.

Không nên cho rằng chưa đăng ký kết hôn nên Tòa án chỉ tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng trong mọi trường hợp của giai đoạn này.

6.3. Không đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003

Nếu hết thời hạn chuyển tiếp mà các bên vẫn không đăng ký kết hôn thì quan hệ của họ không được công nhận là vợ chồng.

Khi có yêu cầu chấm dứt, Tòa án tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết con, tài sản, nghĩa vụ theo quy định áp dụng cho nam nữ chung sống mà không đăng ký kết hôn.

6.4. Đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003

Nếu sau thời hạn chuyển tiếp các bên mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Khoảng thời gian chung sống trước đó không được tự động tính là thời kỳ hôn nhân.


7. Chung sống từ ngày 01/01/2001 trở đi

Nam nữ bắt đầu chung sống từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

Điều này vẫn áp dụng dù:

  • Có tổ chức đám cưới;
  • Được hai bên gia đình thừa nhận;
  • Đã chung sống nhiều năm;
  • Có con chung;
  • Cùng đứng tên tài sản;
  • Kê khai với địa phương là vợ chồng;
  • Một bên thực hiện đầy đủ trách nhiệm gia đình.

Nếu sau đó đăng ký kết hôn, quan hệ hôn nhân chỉ phát sinh kể từ ngày đăng ký, trừ trường hợp chuyển tiếp đặc biệt đã nêu.


8. Điều kiện kết hôn được xem xét như thế nào?

Không phải mọi quan hệ chung sống trước năm 1987 đều được công nhận. Hai bên còn phải đáp ứng điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp bị cấm.

Các yếu tố cần xem xét gồm:

  • Độ tuổi kết hôn;
  • Sự tự nguyện;
  • Năng lực nhận thức;
  • Quan hệ huyết thống;
  • Quan hệ nuôi dưỡng;
  • Tình trạng hôn nhân của mỗi bên;
  • Các điều cấm khác của pháp luật tại thời điểm xác lập.

Trường hợp tại thời điểm bắt đầu chung sống một bên chưa đủ tuổi nhưng sau đó đã đủ tuổi và hai bên tiếp tục chung sống ổn định, việc xác định thời điểm công nhận quan hệ có thể phải căn cứ án lệ và tình tiết cụ thể.

Án lệ số 53/2022/AL là nguồn tham khảo quan trọng đối với việc xác định quan hệ chung sống trước ngày 03/01/1987 và xử lý việc một bên đăng ký kết hôn với người khác.


9. Thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận hoặc giải quyết hôn nhân thực tế

Không có một thủ tục độc lập mang tên “xin công nhận hôn nhân thực tế” áp dụng chung cho mọi trường hợp.

Thông thường, Tòa án xác định quan hệ hôn nhân khi giải quyết:

  • Vụ án ly hôn;
  • Tranh chấp tài sản;
  • Tranh chấp thừa kế;
  • Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật;
  • Tranh chấp xác định quan hệ cha mẹ con;
  • Tranh chấp về quyền sử dụng đất;
  • Yêu cầu xác định tình trạng hôn nhân;
  • Vụ án khác có liên quan.

9.1. Chứng cứ cần chuẩn bị

  • Giấy tờ tùy thân của các bên;
  • Tài liệu về thời điểm bắt đầu chung sống;
  • Giấy khai sinh của các con;
  • Giấy tờ cư trú;
  • Hồ sơ cán bộ hoặc lý lịch;
  • Giấy tờ về tài sản chung;
  • Xác nhận hoặc lời khai của người làm chứng;
  • Ảnh cưới, thiệp cưới;
  • Thông tin về các quan hệ hôn nhân khác;
  • Bản án hoặc quyết định đã có nếu từng giải quyết;
  • Các tài liệu khác chứng minh đời sống vợ chồng.

9.2. Ai có nghĩa vụ chứng minh?

Người yêu cầu công nhận quan hệ vợ chồng hoặc viện dẫn quan hệ đó để bảo vệ quyền lợi phải cung cấp chứng cứ.

Nếu không đủ chứng cứ chứng minh thời điểm và tính chất chung sống, Tòa án có thể không có căn cứ công nhận quan hệ hôn nhân.


10. Chấm dứt hôn nhân thực tế được công nhận

Nếu quan hệ chung sống thuộc trường hợp được pháp luật công nhận là vợ chồng thì việc chấm dứt được giải quyết như ly hôn thông thường.

Tòa án xem xét:

  • Tình trạng hôn nhân có trầm trọng hay không;
  • Đời sống chung có thể kéo dài hay không;
  • Mục đích hôn nhân có đạt được hay không;
  • Thỏa thuận về con;
  • Thỏa thuận về tài sản;
  • Nợ chung;
  • Quyền lợi của người thứ ba.

Quan hệ chỉ chấm dứt khi bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.


11. Chấm dứt việc chung sống không được công nhận là vợ chồng

Nếu hai bên không thuộc trường hợp được công nhận, Tòa án không giải quyết “cho ly hôn” mà tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng.

Tuy nhiên, Tòa án vẫn giải quyết:

  • Quyền trực tiếp nuôi con;
  • Nghĩa vụ cấp dưỡng;
  • Quyền thăm nom;
  • Tài sản chung;
  • Nợ chung;
  • Nghĩa vụ với người thứ ba;
  • Các yêu cầu hợp pháp khác.

Việc không công nhận quan hệ vợ chồng không làm mất quyền của con hoặc quyền tài sản hợp pháp của mỗi bên.


12. Tài sản khi không đăng ký kết hôn được chia thế nào?

Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình quy định quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết trước hết theo thỏa thuận.

Nếu không có thỏa thuận thì áp dụng Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan.

12.1. Tài sản riêng

Tài sản riêng thuộc về người có căn cứ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình.

Căn cứ có thể gồm:

  • Tài sản có trước khi chung sống;
  • Tài sản được tặng cho riêng;
  • Tài sản được thừa kế riêng;
  • Tài sản mua bằng nguồn tiền riêng;
  • Tài sản được phân chia theo thỏa thuận;
  • Quyền tài sản gắn với nhân thân;
  • Chứng cứ hợp pháp khác.

12.2. Tài sản cùng tạo lập

Tài sản do hai bên cùng đóng góp được giải quyết theo tỷ lệ quyền sở hữu, công sức đóng góp hoặc thỏa thuận.

Công sức đóng góp không chỉ là tiền mà còn có thể bao gồm:

  • Lao động tạo thu nhập;
  • Quản lý tài sản;
  • Chăm sóc con;
  • Nội trợ;
  • Duy trì đời sống gia đình;
  • Bảo quản, sửa chữa, làm tăng giá trị tài sản;
  • Các đóng góp khác có thể chứng minh.

12.3. Bảo vệ phụ nữ và con

Việc giải quyết phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Lao động nội trợ và công việc duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập.

Không được chỉ dựa vào việc một người đứng tên trên Giấy chứng nhận để phủ nhận hoàn toàn công sức đóng góp của người còn lại.


13. Quyền của con khi cha mẹ không đăng ký kết hôn

Mọi người con đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không phụ thuộc cha mẹ có đăng ký kết hôn hay không.

Con có quyền:

  • Được khai sinh;
  • Được xác định cha, mẹ;
  • Được chăm sóc và nuôi dưỡng;
  • Được cấp dưỡng;
  • Được thăm nom;
  • Được thừa kế tài sản của cha, mẹ;
  • Được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;
  • Được tham gia ý kiến về người trực tiếp nuôi nếu đủ tuổi luật định.

Không có khái niệm phân biệt “con trong giá thú” và “con ngoài giá thú” về quyền thừa kế hoặc quyền được cha mẹ chăm sóc.


14. Có phải chung sống không đăng ký thì không được thừa kế của nhau?

Cần phân biệt từng trường hợp.

15.1. Quan hệ được pháp luật công nhận là vợ chồng

Nếu quan hệ chung sống thuộc trường hợp được công nhận thì hai bên có tư cách vợ chồng và thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau.

15.2. Quan hệ không được công nhận

Nếu chỉ chung sống nhưng không được công nhận là vợ chồng thì một bên không đương nhiên là người thừa kế theo pháp luật của bên kia.

Người còn sống chỉ được hưởng di sản nếu:

  • Được chỉ định trong di chúc hợp pháp;
  • Có quyền sở hữu chung đối với tài sản;
  • Có quyền yêu cầu hoàn trả phần đóng góp;
  • Thuộc tư cách thừa kế khác;
  • Có căn cứ pháp luật khác.

Con chung vẫn là người thừa kế hàng thứ nhất của cả cha và mẹ nếu quan hệ cha mẹ con được xác định hợp pháp.


15. Việt Nam có thừa nhận chế độ đa thê, đa phu không?

Không. Pháp luật Việt Nam hiện hành thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng.

Người đang có vợ hoặc có chồng không được:

  • Kết hôn với người khác;
  • Chung sống như vợ chồng với người khác;
  • Đồng thời duy trì nhiều quan hệ vợ chồng trái pháp luật;
  • Lợi dụng phong tục, tập quán hoặc tôn giáo để xác lập quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng.

Người chưa có vợ, chưa có chồng cũng không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có vợ hoặc có chồng.


16. Vì sao pháp luật vẫn giải quyết trường hợp một người có nhiều vợ hoặc chồng?

Việc pháp luật giải quyết quyền lợi trong các quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng không đồng nghĩa với việc Nhà nước cho phép đa thê hoặc đa phu.

Đây là cơ chế chuyển tiếp nhằm xử lý những quan hệ hình thành do:

  • Di sản của chế độ xã hội cũ;
  • Hoàn cảnh chiến tranh và chia cắt đất nước;
  • Việc mất liên lạc trong thời gian dài;
  • Điều kiện đăng ký hộ tịch hạn chế;
  • Quan hệ đã tồn tại trước khi nguyên tắc một vợ, một chồng được áp dụng thống nhất;
  • Nhu cầu bảo vệ phụ nữ, trẻ em và người có quyền lợi liên quan.

Pháp luật không khuyến khích hoặc cho phép tạo lập thêm quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng mới.


17. Trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc

Thông tư số 60/TATC hướng dẫn giải quyết trường hợp cán bộ, bộ đội đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra miền Bắc và sau đó lấy vợ hoặc chồng khác.

Đây là trường hợp đặc biệt phát sinh do hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị chia cắt, nhiều người mất liên lạc với gia đình trong thời gian dài và không thể thực hiện thủ tục ly hôn.

Thông tư liên tịch số 01/2016 tiếp tục xác định rằng yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp này vẫn được xử lý theo Thông tư số 60/TATC.

17.1. Nguyên tắc giải quyết

Tòa án không xử lý máy móc mà phải xem xét:

  • Hoàn cảnh lịch sử;
  • Thời điểm xác lập từng quan hệ;
  • Quá trình mất liên lạc;
  • Ý chí và nguyện vọng của các bên;
  • Tình trạng con chung;
  • Quá trình tạo lập tài sản;
  • Sự ổn định của từng gia đình;
  • Quyền lợi của phụ nữ và trẻ em;
  • Các tình tiết cụ thể khác.

17.2. Có phải cả hai quan hệ luôn được công nhận không?

Không thể kết luận chung cho mọi vụ việc.

Tòa án phải xác định quan hệ nào được xác lập hợp pháp, quan hệ nào thuộc trường hợp lịch sử đặc biệt, có yêu cầu ly hôn hay hủy kết hôn hay không và hậu quả đối với từng bên.

Thông tư không tạo ra một quyền chung cho một người được có hai vợ hoặc hai chồng.


18. Trường hợp nhiều vợ trong quan hệ hình thành trước pháp luật mới

Trong một số vụ việc thừa kế, có thể phát sinh trường hợp người chết có nhiều người được xác định là vợ do các quan hệ được hình thành trong thời kỳ lịch sử mà pháp luật chuyển tiếp ghi nhận.

Nghị quyết số 02/HĐTP năm 1990 từng hướng dẫn việc xác định người thừa kế đối với trường hợp một người có nhiều vợ mà các quan hệ đó không bị Tòa án hủy bỏ.

Trong trường hợp đủ căn cứ pháp luật, các người vợ có thể được xác định thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chồng; ngược lại, người chồng có thể là người thừa kế của từng người vợ.

Tuy nhiên, không thể sử dụng hướng dẫn này để hợp pháp hóa quan hệ đa thê được xác lập trái pháp luật hiện nay.

Muốn xác định tư cách thừa kế, cần kiểm tra:

  • Thời điểm bắt đầu từng quan hệ;
  • Pháp luật áp dụng tại địa phương và thời kỳ đó;
  • Việc đăng ký kết hôn;
  • Việc chung sống như vợ chồng;
  • Bản án hoặc quyết định đã có;
  • Quan hệ có từng bị hủy bỏ hay không;
  • Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt;
  • Tài liệu nhân thân và hộ tịch;
  • Ý kiến của những người liên quan.

19. Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng bị xử lý thế nào?

Tùy tính chất, mức độ và hậu quả, người vi phạm có thể:

  • Bị xử phạt vi phạm hành chính;
  • Bị yêu cầu chấm dứt hành vi;
  • Bị hủy việc kết hôn trái pháp luật;
  • Bị giải quyết tranh chấp ly hôn;
  • Bị xử lý kỷ luật trong cơ quan, tổ chức;
  • Bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Phải bồi thường nếu gây thiệt hại;
  • Chịu hậu quả bất lợi khi giải quyết quyền nuôi con hoặc tài sản nếu có căn cứ.

19.1. Trách nhiệm hình sự

Người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mình biết rõ đang có gia đình, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi:

  • Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm;
  • Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
  • Đã có quyết định của Tòa án hủy kết hôn hoặc buộc chấm dứt việc chung sống nhưng vẫn duy trì quan hệ.

Việc có bị xử lý hình sự hay không phải dựa trên chứng cứ và đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, không chỉ dựa vào nghi ngờ hoặc phản ánh một phía.


20. Kết luận

Pháp luật Việt Nam không xem “hôn nhân thực tế” là một hình thức kết hôn song song với đăng ký kết hôn. Đây là cơ chế chuyển tiếp nhằm giải quyết những quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng đã hình thành trong những giai đoạn lịch sử nhất định.

Quan hệ được xác lập trước ngày 03/01/1987 có thể được công nhận là vợ chồng nếu hai bên có đủ điều kiện kết hôn và thực sự chung sống như vợ chồng. Khi muốn chấm dứt, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Đối với quan hệ xác lập từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001, cần xem các bên có đăng ký kết hôn trong thời hạn từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 hay không. Nếu đăng ký đúng thời hạn, quan hệ có thể được công nhận từ thời điểm bắt đầu chung sống. Nếu không đăng ký sau thời hạn chuyển tiếp, quan hệ không được công nhận là vợ chồng.

Quan hệ chung sống từ ngày 01/01/2001 trở đi chỉ được công nhận là hôn nhân kể từ ngày đăng ký kết hôn. Lễ cưới, con chung, tài sản chung hoặc thời gian sống chung không thay thế đăng ký.

Pháp luật Việt Nam hiện nay không thừa nhận chế độ đa thê, đa phu. Những quy định về trường hợp một người có nhiều vợ hoặc nhiều chồng chỉ nhằm giải quyết hậu quả của các quan hệ hình thành trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, bảo vệ phụ nữ, trẻ em, quyền tài sản và quyền thừa kế; không phải là căn cứ để xác lập quan hệ nhiều vợ, nhiều chồng mới.

Do việc xác định quan hệ hôn nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quyền ly hôn, tài sản, thừa kế và tình trạng pháp lý của các bên, người có tranh chấp nên thu thập đầy đủ tài liệu về thời điểm chung sống, đăng ký hộ tịch, con chung, tài sản và hoàn cảnh lịch sử trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560