THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC: AI ĐƯỢC HƯỞNG VÀ CÁCH TÍNH NHƯ THẾ NÀO?

Một người lập di chúc ghi rõ: “Toàn bộ tài sản của tôi để lại cho con trai, vợ tôi không được hưởng.”

Sau khi người này mất, người vợ có thực sự không được nhận bất kỳ tài sản nào hay không?

Câu trả lời là: Chưa chắc.

Pháp luật thừa kế tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc, nhưng quyền này không phải tuyệt đối. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được bảo đảm một phần di sản nhất định, ngay cả khi họ không được cho hưởng di sản hoặc chỉ được cho hưởng rất ít trong di chúc.

Đây được gọi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1. Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là gì?

Về nguyên tắc, người có tài sản có quyền lập di chúc để chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế và thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra một ngoại lệ.

Theo đó, một số người có quan hệ đặc biệt với người chết vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp:

  • Không được người lập di chúc cho hưởng di sản; hoặc
  • Được cho hưởng nhưng phần được hưởng thấp hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.

Nói cách khác, một người có thể không có tên trong di chúc, thậm chí bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản, nhưng vẫn có thể được nhận một phần di sản nếu thuộc đối tượng được Điều 644 bảo vệ.

2. Những ai được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc?

Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 xác định 04 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, con chưa thành niên của người để lại di sản

Con chưa thành niên được xác định theo độ tuổi của người con tại thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người có tài sản chết.

Ví dụ:

Ông A lập di chúc năm 2020, khi con trai ông đã 16 tuổi và ghi rõ không để lại tài sản cho người con này.

Năm 2023, ông A chết, lúc này người con đã 19 tuổi và có khả năng lao động bình thường.

Việc xác định người con có thuộc Điều 644 hay không phải căn cứ vào tình trạng của người con tại thời điểm ông A chết, chứ không phải thời điểm lập di chúc.

Thứ hai, cha, mẹ của người để lại di sản

Cha, mẹ thuộc nhóm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Đáng lưu ý, pháp luật không đặt ra điều kiện cha, mẹ phải già yếu, không có thu nhập hoặc mất khả năng lao động.

Do đó, dù cha hoặc mẹ đang có lương hưu, có tài sản riêng hoặc vẫn có khả năng lao động thì về nguyên tắc vẫn thuộc đối tượng quy định tại Điều 644.

Thứ ba, vợ hoặc chồng của người để lại di sản

Vợ hoặc chồng cũng thuộc nhóm người được Điều 644 bảo vệ.

Đây là vấn đề thường xuyên phát sinh tranh chấp.

Ví dụ, người chồng lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho các con và ghi rõ:

“Vợ tôi không được quyền hưởng bất kỳ phần di sản nào.”

Nếu tại thời điểm người chồng chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn tồn tại hợp pháp thì người vợ không đương nhiên mất toàn bộ quyền hưởng di sản chỉ vì nội dung này của di chúc.

Nếu đáp ứng điều kiện của Điều 644, người vợ vẫn có thể yêu cầu được hưởng phần di sản tối thiểu mà pháp luật bảo đảm.

Đặc biệt, người vợ hoặc chồng không phải chứng minh mình mất khả năng lao động mới được áp dụng quy định này.

Thứ tư, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

Khác với con chưa thành niên, người con đã đủ 18 tuổi chỉ thuộc nhóm người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc khi không có khả năng lao động.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, việc một người có thực sự không có khả năng lao động hay không cần được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ phù hợp.

Không nên đồng nhất một cách máy móc giữa việc mắc bệnh, bị khuyết tật hoặc có tỷ lệ tổn thương cơ thể với việc đương nhiên được xác định là “không có khả năng lao động”. Đây có thể trở thành vấn đề cần chứng minh và đánh giá chứng cứ trong từng vụ án cụ thể.

3. Có phải cứ thuộc 4 nhóm trên là chắc chắn được hưởng?

Không.

Khoản 2 Điều 644 Bộ luật Dân sự đặt ra hai trường hợp ngoại lệ quan trọng.

Trường hợp 1: Người thừa kế đã từ chối nhận di sản

Nếu người đó đã từ chối nhận di sản hợp pháp theo Điều 620 Bộ luật Dân sự thì không thể tiếp tục yêu cầu hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644.

Trường hợp 2: Thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản

Điều 621 Bộ luật Dân sự quy định một số trường hợp không được quyền hưởng di sản, chẳng hạn:

  • Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
  • Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
  • Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người đó có quyền hưởng;
  • Có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Tuy nhiên, pháp luật còn có ngoại lệ đối với trường hợp này: nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc, họ vẫn có thể được hưởng theo nội dung di chúc.

4. Cách tính 2/3 suất thừa kế theo pháp luật

Đây là nội dung dễ gây nhầm lẫn nhất.

Điều 644 không quy định rằng những người thuộc diện này được hưởng 2/3 di sản.

Họ được hưởng:

2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật nếu toàn bộ di sản được chia theo pháp luật.

Có thể hình dung qua 03 bước cơ bản:

Bước 1: Xác định chính xác khối di sản của người chết.

Bước 2: Giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật và xác định một suất thừa kế theo pháp luật là bao nhiêu.

Bước 3: Lấy một suất thừa kế theo pháp luật × 2/3.

Kết quả là mức di sản tối thiểu mà người thuộc Điều 644 được bảo đảm, nếu họ không được di chúc cho hưởng hoặc phần được cho hưởng thấp hơn mức này.

5. Ví dụ cụ thể

Ông A chết, để lại 3 tỷ đồng di sản riêng.

Giả sử tại thời điểm ông A chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất chỉ gồm:

  • Bà B – vợ;
  • Anh C – con trai 25 tuổi, có khả năng lao động;
  • Chị D – con gái 10 tuổi;
  • Bà E – mẹ ruột của ông A.

Ông A lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ 3 tỷ đồng cho người cháu X.

Nếu giả định không có di chúc, 3 tỷ đồng được chia cho 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất:

3 tỷ : 4 = 750 triệu đồng/người.

Hai phần ba của một suất thừa kế là:

750 triệu × 2/3 = 500 triệu đồng.

Bây giờ phải xác định những ai thuộc Điều 644:

  • Bà B: Có, vì là vợ.
  • Anh C: Không, vì đã thành niên và có khả năng lao động.
  • Chị D: Có, vì là con chưa thành niên.
  • Bà E: Có, vì là mẹ.

Như vậy, nếu không có tình tiết pháp lý khác làm thay đổi kết quả, bà B, chị D và bà E mỗi người được bảo đảm mức 500 triệu đồng.

Tổng cộng:

500 triệu × 3 = 1,5 tỷ đồng.

Phần còn lại theo giả định này là:

3 tỷ – 1,5 tỷ = 1,5 tỷ đồng

và được xử lý theo nội dung di chúc cho người cháu X.

Đây cũng cho thấy một vấn đề quan trọng: vợ của người chết vẫn thuộc Điều 644 dù còn trẻ, có công việc và hoàn toàn có khả năng lao động.

6. Nếu di chúc đã cho người này một phần tài sản thì tính thế nào?

Không phải lúc nào người thuộc Điều 644 cũng được nhận thêm nguyên 2/3 suất.

Cần so sánh phần họ thực tế được hưởng theo di chúc với mức tối thiểu theo Điều 644.

Ví dụ:

2/3 suất thừa kế theo pháp luật của bà B được xác định là 500 triệu đồng.

Nếu di chúc đã cho bà B:

  • 700 triệu đồng: Bà B đã được hưởng cao hơn mức tối thiểu, về nguyên tắc không phát sinh phần thiếu theo Điều 644;
  • 500 triệu đồng: Đã bằng mức tối thiểu;
  • 200 triệu đồng: Phải xem xét bảo đảm thêm phần còn thiếu để đạt mức 500 triệu đồng;
  • Không cho hưởng: Phải xem xét bảo đảm mức 500 triệu đồng.

Vì vậy, Điều 644 nên được hiểu là cơ chế bảo đảm một mức hưởng tối thiểu, không phải cơ chế để người thừa kế đương nhiên nhận thêm 2/3 suất ngoài phần đã được di chúc cho hưởng.

7. Di chúc truất quyền thừa kế của vợ, chồng hoặc con thì di chúc có vô hiệu không?

Không thể kết luận như vậy.

Đây là một điểm rất quan trọng.

Việc di chúc ghi rằng:

“Tôi không để lại tài sản cho vợ.”

không đồng nghĩa toàn bộ di chúc vô hiệu.

Nếu người vợ thuộc Điều 644, khi phân chia di sản phải xem xét bảo đảm phần thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc cho người vợ.

Phần di sản còn lại vẫn có thể được phân chia theo di chúc nếu di chúc đáp ứng các điều kiện có hiệu lực.

Nói cách khác, cần phân biệt:

Hiệu lực của di chúc

với

quyền được bảo đảm một phần di sản theo Điều 644.

Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau.

8. Trước khi tính 2/3 suất phải xác định đúng di sản

Trong thực tế, tranh chấp thường phức tạp hơn ví dụ nêu trên rất nhiều.

Sai lầm phổ biến là lấy toàn bộ tài sản đứng tên người chết để tính thừa kế.

Ví dụ, căn nhà trị giá 6 tỷ đồng đứng tên người chồng nhưng thực tế là tài sản chung của vợ chồng.

Nếu xác định mỗi người có 1/2 quyền sở hữu thì trước hết phải xác định phần tài sản của người vợ. Chỉ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chồng mới trở thành di sản để tiếp tục tính thừa kế.

Ngoài ra còn phải xem xét nghĩa vụ tài sản của người chết và các khoản được thanh toán từ di sản theo quy định pháp luật.

Do đó, trước khi tính 2/3 suất thừa kế cần lần lượt làm rõ:

Tài sản nào là của người chết → phần nào thực sự là di sản → những ai là người thừa kế theo pháp luật → một suất theo pháp luật bằng bao nhiêu → ai thuộc Điều 644 → người đó đã được di chúc cho hưởng bao nhiêu.

Nếu sai ngay từ khâu xác định khối di sản thì toàn bộ kết quả phía sau có thể sai theo.

9. Những tranh chấp thường gặp

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, quy định tại Điều 644 thường phát sinh cùng nhiều vấn đề khác.

Tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con

Một người yêu cầu hưởng di sản với tư cách con của người chết nhưng giấy khai sinh không có tên cha hoặc các đồng thừa kế không công nhận quan hệ huyết thống.

Khi đó, việc xác định quan hệ cha con có thể trở thành vấn đề cần giải quyết trước hoặc đồng thời với tranh chấp thừa kế.

Tranh chấp về quan hệ vợ chồng

Các bên có thể tranh luận người yêu cầu hưởng di sản có thực sự là vợ/chồng hợp pháp của người chết tại thời điểm mở thừa kế hay không.

Tranh chấp về khả năng lao động

Đối với người con đã thành niên, việc chứng minh “không có khả năng lao động” có thể quyết định họ có thuộc Điều 644 hay không.

Tranh chấp về khối di sản

Đây là trường hợp đặc biệt phổ biến với nhà, đất.

Tài sản có thể đứng tên người chết nhưng có tranh chấp về việc đó là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng; hoặc người khác cho rằng mình đã góp tiền tạo lập tài sản.

Tranh chấp về giá trị tài sản

Nếu di sản là bất động sản và không thể chia bằng hiện vật, giá trị tài sản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà từng người được nhận.

10. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế

Không nên hiểu rằng mọi tranh chấp thừa kế đều có thời hiệu 10 năm.

Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015:

  • Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế;
  • Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế;
  • Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Do đó, khi đánh giá một vụ tranh chấp liên quan đến Điều 644, cần xác định chính xác yêu cầu khởi kiện cụ thể là gì và di sản thuộc loại tài sản nào, thay vì mặc nhiên áp dụng thời hiệu 10 năm cho mọi trường hợp.

11. Luật sư có thể hỗ trợ gì trong tranh chấp thừa kế không phụ thuộc di chúc?

Những vụ án liên quan đến Điều 644 thường không chỉ có một vấn đề đơn lẻ là “ai được 2/3 suất”.

Luật sư cần xem xét toàn bộ quan hệ thừa kế, bao gồm:

  • Xác định hiệu lực của di chúc;
  • Xác định chính xác khối di sản;
  • Phân biệt tài sản riêng và tài sản chung của người chết;
  • Xác định đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế;
  • Xác định người thuộc diện thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc;
  • Tính toán phần di sản tối thiểu từng người được hưởng;
  • Đánh giá trường hợp từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản;
  • Thu thập và đánh giá chứng cứ về quan hệ nhân thân;
  • Đánh giá thời hiệu khởi kiện;
  • Tham gia thương lượng, hòa giải;
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Trong những vụ việc có bất động sản giá trị lớn hoặc nhiều thế hệ thừa kế, việc xác định sai chỉ một người thuộc hàng thừa kế cũng có thể làm thay đổi toàn bộ cách tính phần di sản.

Kết luận

Di chúc là sự thể hiện ý chí của người có tài sản và về nguyên tắc phải được tôn trọng. Tuy nhiên, quyền định đoạt bằng di chúc không phải lúc nào cũng tuyệt đối.

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, con chưa thành niên; cha, mẹ; vợ, chồng; và con thành niên không có khả năng lao động có thể vẫn được hưởng phần di sản tối thiểu bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, mặc dù không được cho hưởng hoặc chỉ được cho hưởng ít hơn mức này trong di chúc.

Do đó, khi một bản di chúc ghi rằng “không cho vợ hưởng”, “truất quyền của con” hoặc “để toàn bộ tài sản cho một người”, không nên chỉ đọc nội dung di chúc rồi kết luận ngay ai được và ai không được hưởng.

Muốn xác định chính xác phải đồng thời xem xét hiệu lực di chúc, khối di sản thực tế, hàng thừa kế theo pháp luật, Điều 644, các trường hợp không được quyền hưởng di sản và phần tài sản mà từng người đã được định đoạt trong di chúc.

Đó cũng là lý do nhiều tranh chấp thừa kế tưởng đơn giản nhưng khi giải quyết lại đòi hỏi phải phân tích đồng thời nhiều quan hệ pháp luật khác nhau.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560