Đất được cho bằng lời nói từ năm 1991, có tên trên bản đồ địa chính và đóng thuế đầy đủ thì có được quyền sử dụng?

Một trường hợp khá phổ biến trong thực tế là cha mẹ, ông bà giao đất cho con cháu sử dụng từ hàng chục năm trước nhưng không lập hợp đồng tặng cho, không có công chứng, chứng thực và đất cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận.

Sau khi nhận đất, người được cho đã xây nhà, sinh sống ổn định, kê khai đất, có tên trên hồ sơ địa chính và đóng thuế từ đầu những năm 1990 đến nay.

Vậy những tài liệu này có đủ để chứng minh quyền sử dụng đất hay không? Đất có được cấp sổ đỏ không?

Câu trả lời không thể chỉ dựa vào việc “đã đóng thuế bao nhiêu năm”, mà phải xem xét toàn bộ nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất.

1. Đóng thuế đất hơn 30 năm có đồng nghĩa với việc đã có quyền sử dụng đất?

Không thể đồng nhất hai vấn đề này.

Việc một người có biên lai nộp thuế nhà đất, thuế sử dụng đất hoặc các khoản nghĩa vụ tài chính khác trong thời gian dài là chứng cứ quan trọng để chứng minh quá trình thực tế quản lý, sử dụng đất.

Tuy nhiên, biên lai thuế tự thân nó không phải là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không phải trong mọi trường hợp cứ đóng thuế lâu năm thì Nhà nước đương nhiên công nhận quyền sử dụng đất.

Khi giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận hoặc tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét nhiều vấn đề khác như:

  • Nguồn gốc thửa đất;
  • Ai là người quản lý, sử dụng thực tế;
  • Thời điểm bắt đầu sử dụng;
  • Quá trình sử dụng có liên tục hay không;
  • Mục đích sử dụng đất;
  • Hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ;
  • Có tranh chấp hay không;
  • Có hành vi lấn, chiếm hoặc vi phạm pháp luật đất đai hay không;
  • Đất được giao đúng hay không đúng thẩm quyền;
  • Các tài liệu về đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất.

Do đó, biên lai thuế là chứng cứ chứ không phải “tấm vé” đương nhiên để được cấp sổ đỏ.

Đất được cho bằng lời nói từ năm 1991, có tên trên bản đồ địa chính và đóng thuế đầy đủ thì có được quyền sử dụng?
Đất được cho bằng lời nói từ năm 1991, có tên trên bản đồ địa chính và đóng thuế đầy đủ thì có được quyền sử dụng?

2. Có tên trên bản đồ địa chính từ năm 1992 có giá trị như thế nào?

Đây là tài liệu cần đặc biệt quan tâm.

Tuy nhiên, khi người dân nói rằng “đất đứng tên tôi trên bản đồ địa chính”, trước tiên phải kiểm tra chính xác tài liệu đó là gì.

Cần phân biệt giữa:

  • Bản đồ địa chính;
  • Sổ mục kê;
  • Sổ địa chính;
  • Sổ đăng ký ruộng đất;
  • Hồ sơ đăng ký đất đai;
  • Tài liệu đo đạc;
  • Hồ sơ kê khai qua các thời kỳ.

Giá trị pháp lý của từng loại tài liệu không hoàn toàn giống nhau.

Đặc biệt, Điều 137 Luật Đất đai 2024 quy định một số loại giấy tờ có thể trực tiếp trở thành căn cứ xem xét cấp Giấy chứng nhận. Trong đó có trường hợp người sử dụng đất có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính và một số loại tài liệu được lập trong quá trình đăng ký đất đai theo quy định pháp luật.

Vì vậy, nếu gia đình cho rằng mình “đứng tên trên bản đồ địa chính năm 1992”, cần trích lục và kiểm tra toàn bộ hồ sơ địa chính đi kèm, thay vì chỉ xem bản đồ.

Có những trường hợp bản đồ thể hiện số thửa, diện tích và hiện trạng nhưng thông tin người sử dụng lại nằm trong sổ mục kê hoặc một tài liệu quản lý khác.

Việc xác định chính xác loại hồ sơ năm 1992 có thể làm thay đổi đáng kể căn cứ pháp lý để xin cấp Giấy chứng nhận.

3. Được ông nội cho đất bằng lời nói năm 1991 thì có được công nhận hay không?

Không nên giải quyết trường hợp này đơn giản bằng lập luận:

“Không có hợp đồng tặng cho nên việc tặng cho vô hiệu.”

Bởi giao dịch được xác lập từ năm 1991 phải được xem xét trong bối cảnh pháp luật tại thời điểm giao dịch được xác lập, đồng thời phải đánh giá cả quá trình thực hiện giao dịch và quản lý, sử dụng đất sau đó.

Trong thực tế, rất nhiều trường hợp cha mẹ, ông bà cho con cháu đất từ những năm 1980–1990 chỉ bằng lời nói.

Sau khi được giao đất, người nhận:

  • Tiếp nhận đất trên thực tế;
  • Xây dựng nhà ở;
  • Sinh sống lâu dài;
  • Canh tác;
  • Kê khai, đăng ký đất;
  • Đứng tên trong hồ sơ quản lý đất đai;
  • Thực hiện nghĩa vụ tài chính;
  • Quản lý công khai trong hàng chục năm;
  • Người giao đất không phản đối.

Những tình tiết này có giá trị rất lớn khi đánh giá nguồn gốc và quá trình sử dụng đất thực tế.

Do đó, không thể chỉ lấy quy định hiện hành về hình thức hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất rồi áp dụng máy móc để kết luận rằng việc cho đất năm 1991 chắc chắn vô hiệu.

4. Trường hợp này có thể được cấp sổ đỏ không?

Có khả năng được xem xét cấp Giấy chứng nhận, nhưng phải xác định gia đình thuộc trường hợp pháp lý nào.

Theo Luật Đất đai 2024, trước hết cần kiểm tra người đang sử dụng đất có thuộc trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 137 hay không.

Nếu hồ sơ địa chính từ năm 1992 thuộc một trong những loại giấy tờ được Điều 137 công nhận thì việc cấp Giấy chứng nhận được xem xét theo nhóm trường hợp có giấy tờ.

Ngược lại, nếu những tài liệu mà gia đình đang có không phải giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137, thì chưa có nghĩa gia đình không thể được cấp sổ.

Điều 138 Luật Đất đai 2024 còn quy định việc cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng và không thuộc trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai hoặc đất được giao không đúng thẩm quyền phải xử lý theo quy định riêng.

Đối với đất bắt đầu sử dụng từ năm 1991, mốc thời gian này có ý nghĩa đặc biệt khi xác định điều kiện và diện tích đất được công nhận.

Vì vậy, câu hỏi đúng không phải chỉ là:

“Có biên lai thuế thì có được cấp sổ không?”

mà phải là:

“Với nguồn gốc được giao đất từ năm 1991, hồ sơ địa chính năm 1992 và quá trình sử dụng thực tế đến nay, thửa đất thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận nào theo Luật Đất đai 2024?”

5. Nếu ông nội hoặc những người thừa kế của ông nội quay lại đòi đất thì sao?

Đây mới là tình huống pháp lý phức tạp.

Giả sử ông nội đã giao 432 m² đất cho gia đình từ năm 1991 nhưng không lập giấy tặng cho. Sau hơn 30 năm, phát sinh tranh chấp và những người thừa kế của ông cho rằng:

“Ngày trước ông chỉ cho ở nhờ chứ không cho đất.”

Khi đó, tranh chấp không thể giải quyết chỉ bằng câu hỏi “ai đang đứng tên sổ đỏ”, bởi thửa đất vốn chưa được cấp Giấy chứng nhận.

Cơ quan giải quyết tranh chấp phải đánh giá toàn bộ chứng cứ.

Phía gia đình đang sử dụng đất cần chứng minh:

Gia đình được giao đất với ý chí cho hẳn, chứ không phải cho mượn, cho ở nhờ hoặc cho sử dụng tạm thời.

Các chứng cứ có thể bao gồm:

  • Hồ sơ kê khai đất từ năm 1991–1992;
  • Hồ sơ địa chính;
  • Sổ mục kê, sổ địa chính, sổ đăng ký ruộng đất nếu có;
  • Biên lai nộp thuế qua các năm;
  • Hồ sơ xây dựng nhà;
  • Chứng cứ về việc cải tạo, đầu tư trên đất;
  • Giấy tờ cư trú tại địa chỉ này;
  • Hồ sơ điện, nước;
  • Người làm chứng biết rõ việc ông nội cho đất;
  • Ý kiến của những thành viên gia đình;
  • Tài liệu thể hiện ông nội biết việc gia đình kê khai, xây nhà, sử dụng đất nhưng không phản đối;
  • Các giấy tờ khác hình thành trong quá trình quản lý, sử dụng đất.

Phía yêu cầu đòi đất cũng phải chứng minh căn cứ của mình.

Nếu cho rằng chỉ “cho ở nhờ”, phải xem xét có tài liệu hoặc tình tiết nào thể hiện quan hệ cho ở nhờ hay không.

Nếu cho rằng đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông nội, phải xem xét hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ thể hiện ai là người đăng ký và sử dụng.

Nếu cho rằng việc tặng cho chưa hoàn tất, phải đánh giá giao dịch theo pháp luật áp dụng đối với giao dịch được xác lập vào thời điểm đó và toàn bộ quá trình thực hiện trên thực tế.

Chính vì vậy, trong tranh chấp đất được cha mẹ, ông bà cho bằng lời nói từ hàng chục năm trước, quá trình sử dụng thực tế đôi khi có giá trị chứng minh rất lớn.

6. Gia đình đã đóng thuế từ năm 1991 nhưng ông nội vẫn đứng tên trong hồ sơ địa chính thì sao?

Tình huống này phải được đánh giá khác với trường hợp gia đình đã đứng tên hồ sơ địa chính.

Ví dụ:

Trường hợp A: Ông nội cho đất năm 1991, từ năm 1992 bố mẹ đã đứng tên trong hồ sơ đăng ký đất đai và đóng thuế liên tục.

Trường hợp B: Ông nội cho đất năm 1991, bố mẹ sử dụng và đóng thuế nhưng hồ sơ địa chính đến nay vẫn thể hiện ông nội là người sử dụng.

Hai trường hợp này không có giá trị chứng minh giống nhau.

Ở trường hợp A, việc người nhận đất đã được ghi nhận trong hệ thống hồ sơ quản lý đất đai từ rất sớm là một tình tiết đặc biệt quan trọng.

Ở trường hợp B, cần làm rõ vì sao người nhận đất đóng thuế nhưng hồ sơ vẫn đứng tên ông nội; có việc kê khai chuyển quyền hay không; hồ sơ địa chính đã từng chỉnh lý hay chưa; và những tài liệu nào chứng minh ý chí giao đất.

Vì vậy, khi giải quyết một hồ sơ đất cũ, luật sư thường không chỉ xem giấy tờ khách hàng đang giữ mà còn cần trích lục hồ sơ quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ.

7. Đất sử dụng ổn định có đồng nghĩa với đất không có tranh chấp không?

Không. Đây là hai vấn đề khác nhau.

Một gia đình có thể chứng minh đã quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1991 nhưng đến năm 2026 mới phát sinh tranh chấp với người khác.

Việc tranh chấp phát sinh sau này không làm cho toàn bộ quá trình sử dụng hơn 30 năm trước đó “biến mất”.

Tuy nhiên, tình trạng tranh chấp lại có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Trong trường hợp quyền sử dụng đất đang bị tranh chấp, thông thường phải giải quyết tranh chấp và xác định người có quyền sử dụng đất trước, sau đó mới có cơ sở hoàn thiện việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận theo kết quả giải quyết.

8. Cần làm gì nếu có đất sử dụng từ năm 1991 nhưng chưa có sổ đỏ?

Không nên chờ đến khi phát sinh tranh chấp mới bắt đầu tìm hồ sơ.

Đối với đất đã sử dụng từ những năm 1980–1990, tài liệu càng cũ thì nguy cơ thất lạc càng lớn.

Người sử dụng đất nên chủ động tập hợp và kiểm tra:

  • Tài liệu về nguồn gốc giao đất;
  • Hồ sơ kê khai đăng ký đất;
  • Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ;
  • Bản đồ địa chính;
  • Sổ mục kê;
  • Sổ địa chính;
  • Sổ đăng ký ruộng đất nếu có;
  • Biên lai thuế;
  • Hồ sơ nhà ở, công trình trên đất;
  • Tài liệu chứng minh thời điểm bắt đầu sinh sống;
  • Giấy tờ điện, nước và các tài liệu liên quan;
  • Các tài liệu thể hiện việc sử dụng đất công khai, liên tục;
  • Thông tin về tình trạng tranh chấp và quy hoạch.

Sau đó mới có thể xác định chính xác hồ sơ thuộc Điều 137, Điều 138 hay trường hợp khác của Luật Đất đai 2024 để lựa chọn căn cứ đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

Kết luận

Đất chưa có sổ đỏ nhưng đã được sử dụng từ năm 1991, có hồ sơ địa chính từ năm 1992 và đóng thuế liên tục hơn 30 năm là trường hợp có cơ sở đáng kể để xem xét việc công nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, không nên kết luận rằng “đóng thuế lâu năm thì đương nhiên đất thuộc về mình”.

Biên lai thuế, bản đồ địa chính và các tài liệu kê khai là những chứng cứ quan trọng, nhưng phải được đặt trong tổng thể gồm nguồn gốc đất, loại hồ sơ địa chính cụ thể, người đứng tên đăng ký, thời điểm sử dụng, quá trình quản lý thực tế, tình trạng tranh chấp và các điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo Luật Đất đai 2024.

Đặc biệt, với trường hợp ông bà, cha mẹ cho đất bằng lời nói từ hàng chục năm trước, không nên chỉ nhìn vào việc không có hợp đồng công chứng để kết luận giao dịch không có giá trị.

Quá trình người nhận đất thực tế tiếp nhận, xây nhà, sinh sống, đăng ký, kê khai, đóng thuế và quản lý công khai trong hàng chục năm là những tình tiết cần được xem xét toàn diện khi xác định ai mới là người có quyền sử dụng đất hợp pháp.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560