Hành vi đăng bài vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào năm 2026?

Đăng bài vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác trên Facebook, TikTok, Zalo và các nền tảng mạng xã hội có thể bị xử phạt hành chính, buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ ngày 01/7/2026, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội thuộc trường hợp quy định tại Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với cá nhân và từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với tổ chức.

Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm pháp lý không chỉ dựa vào nội dung bài đăng mà còn phải xem xét tính xác thực của thông tin, cách thức thể hiện, mục đích của người đăng, mức độ xâm phạm quyền nhân thân và hậu quả phát sinh.

Đặc biệt, trong thực tế, không ít cá nhân, cửa hàng hoặc doanh nghiệp sử dụng mạng xã hội để công khai hình ảnh, thông tin của người khác và đưa ra những cáo buộc như trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản khi chưa có đủ căn cứ. Những hành vi này có thể dẫn đến tranh chấp pháp lý nghiêm trọng.

Hành vi đăng bài vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào năm 2026?
Hành vi đăng bài vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào năm 2026?

1. Tình huống pháp lý: Shop quần áo đăng bài tố khách hàng trộm đồ khi chưa có bằng chứng

Một khách hàng đến mua sắm tại cửa hàng quần áo. Trong khoảng thời gian khách hàng có mặt, cửa hàng không có khách khác. Sau đó, cửa hàng phát hiện bị mất một số sản phẩm nhưng không có camera ghi nhận được người lấy tài sản.

Chủ cửa hàng tìm được tài khoản Facebook của khách hàng và nhắn tin hỏi về việc mất đồ. Khách hàng khẳng định mình không lấy tài sản.

Tuy nhiên, cửa hàng vẫn đăng bài trên fanpage, sử dụng những lời lẽ ám chỉ hoặc quy kết khách hàng là người trộm cắp, đồng thời có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Trong trường hợp này, cần xác định ba vấn đề:

  • Cửa hàng có quyền nghi ngờ và trình báo việc mất tài sản hay không?
  • Việc đăng bài công khai cáo buộc khách hàng khi chưa có căn cứ có vi phạm pháp luật không?
  • Khách hàng có thể yêu cầu xử phạt, xin lỗi công khai hoặc bồi thường thiệt hại như thế nào?

Về nguyên tắc, cửa hàng có quyền trình báo cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện tài sản bị mất. Tuy nhiên, quyền trình báo không đồng nghĩa với quyền tự ý công khai kết luận một cá nhân đã thực hiện hành vi trộm cắp khi chưa có căn cứ xác thực.

Việc một người có mặt tại cửa hàng trong khoảng thời gian phát hiện mất tài sản chỉ là tình tiết cần xác minh, không đủ để kết luận người đó đã thực hiện hành vi phạm tội.

2. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được pháp luật bảo vệ như thế nào?

2.1. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm theo Hiến pháp

Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của mọi người.

Điều này thể hiện nguyên tắc: Danh dự và nhân phẩm là những giá trị nhân thân được pháp luật bảo vệ, không phụ thuộc vào nghề nghiệp, địa vị xã hội hay mức độ nổi tiếng của cá nhân.

Một người bình thường, một khách hàng mua sắm hoặc một người kinh doanh nhỏ lẻ đều có quyền yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm khi bị xâm phạm.

2.2. Quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín theo Bộ luật Dân sự

Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Khi thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín bị đăng tải, cá nhân bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ theo quy định, trong đó có:

  • Yêu cầu bác bỏ thông tin không đúng sự thật;
  • Yêu cầu gỡ bỏ hoặc cải chính thông tin theo quy định;
  • Yêu cầu người đưa thông tin xin lỗi, cải chính công khai;
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Như vậy, pháp luật không chỉ xử lý người vi phạm bằng tiền phạt mà còn thiết lập cơ chế bảo vệ và khôi phục quyền nhân thân cho người bị xâm phạm.

3. Thế nào là vu khống và xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên mạng xã hội?

Trong đời sống, hai khái niệm “vu khống” và “xúc phạm” thường được sử dụng cùng nhau. Tuy nhiên, khi đánh giá trách nhiệm pháp lý, cần phân biệt bản chất từng hành vi.

3.1. Hành vi vu khống

Vu khống có thể thể hiện thông qua việc bịa đặt hoặc loan truyền những điều mà người thực hiện biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Ví dụ:

  • Bịa đặt một người trộm cắp tài sản để đăng lên Facebook;
  • Cố ý dựng chuyện một cá nhân lừa đảo chiếm đoạt tiền;
  • Biết thông tin không đúng nhưng vẫn phát tán nhằm làm tổn hại uy tín của người khác.

Đối với trách nhiệm hình sự về tội vu khống, việc chứng minh yếu tố người thực hiện biết rõ thông tin là sai sự thật có ý nghĩa quan trọng.

Không thể chỉ dựa vào việc thông tin sau đó được xác định là không chính xác để mặc nhiên kết luận người đăng đã phạm tội vu khống.

3.2. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Hành vi xúc phạm có thể thể hiện bằng lời nói, hình ảnh, video hoặc nội dung đăng tải nhằm hạ thấp, lăng mạ, làm nhục người khác.

Ví dụ, việc sử dụng những lời lẽ miệt thị nghiêm trọng, công khai hình ảnh cá nhân kèm nội dung hạ nhục hoặc tổ chức nhiều người cùng công kích một cá nhân có thể đặt ra vấn đề trách nhiệm pháp lý.

Đối với tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự, yếu tố trọng tâm là mức độ xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự.

3.3. Phê bình, phản ánh và vu khống khác nhau thế nào?

Không phải mọi bài viết tiêu cực về người khác đều là hành vi vu khống.

Người tiêu dùng có quyền phản ánh trải nghiệm mua hàng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc những vấn đề thực tế mà mình gặp phải. Tương tự, cửa hàng có quyền cảnh báo về các sự việc liên quan đến hoạt động kinh doanh trên cơ sở thông tin xác thực và trong giới hạn pháp luật.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa:

  • Phản ánh một sự việc có căn cứ;
  • Trình bày nghi ngờ và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh;
  • Khẳng định người khác đã phạm tội khi chưa có căn cứ;
  • Cố ý bịa đặt hoặc lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật;
  • Sử dụng lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm.

Ranh giới này quyết định việc một bài đăng được xem là thực hiện quyền phản ánh hợp pháp hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

4. Đăng bài vu khống, xúc phạm người khác trên Facebook bị phạt bao nhiêu tiền năm 2026?

Đây là nội dung đã có thay đổi quan trọng từ ngày 01/7/2026.

Theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc danh dự, nhân phẩm của cá nhân thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính.

4.1. Mức phạt đối với cá nhân

Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, mức phạt đối với cá nhân bằng một nửa mức phạt áp dụng đối với tổ chức trong trường hợp tương ứng.

Do đó, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 có thể bị phạt tiền:

Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

4.2. Mức phạt đối với tổ chức

Đối với tổ chức có hành vi vi phạm tương ứng, mức phạt tiền là:

Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Cần lưu ý, một bài đăng được thực hiện trên fanpage của cửa hàng không đồng nghĩa trong mọi trường hợp chủ thể bị xử phạt đương nhiên là tổ chức. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định người thực hiện, chủ thể chịu trách nhiệm và các tình tiết liên quan.

4.3. Có bị buộc gỡ bài viết vi phạm không?

Có. Khoản 3 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật đối với các hành vi thuộc phạm vi quy định.

Như vậy, người vi phạm có thể vừa bị phạt tiền vừa phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

5. Quy định xử phạt năm 2026 có gì khác so với trước đây?

Trước ngày 01/7/2026, việc xử phạt hành vi lợi dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin sai sự thật, vu khống hoặc xúc phạm người khác thường được viện dẫn theo Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thiết lập quy định mới về xử phạt trong lĩnh vực liên quan.

Vì vậy, đối với hành vi xảy ra trong thời gian áp dụng Nghị định 174/2026/NĐ-CP, cần căn cứ quy định hiện hành thay vì sử dụng nguyên mức phạt của Nghị định 15/2020/NĐ-CP.

Đối với hành vi xảy ra trước thời điểm văn bản mới có hiệu lực, việc xác định văn bản áp dụng phải tuân thủ quy định pháp luật về hiệu lực theo thời gian và xử lý vi phạm hành chính.

6. Đăng bài vu khống trên mạng xã hội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có thể, nếu hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Không phải mọi hành vi đăng bài sai sự thật đều bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, khi mức độ nguy hiểm của hành vi đạt đến ngưỡng mà Bộ luật Hình sự quy định, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hai tội danh thường được xem xét là:

  • Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự;
  • Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.

7. Tội làm nhục người khác trên mạng xã hội bị phạt tù bao nhiêu năm?

Điều 155 Bộ luật Hình sự quy định về tội làm nhục người khác.

Đối với hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm theo khung cơ bản.

Trường hợp thuộc các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 155, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Đáng chú ý, việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội là một tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với trường hợp thuộc khoản 3 Điều 155, mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Như vậy, mức phạt tù cao nhất đối với tội làm nhục người khác là 05 năm.

Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định.

8. Tội vu khống người khác trên Facebook có thể bị phạt tù đến 07 năm

Điều 156 Bộ luật Hình sự quy định về tội vu khống.

Theo khung cơ bản, người thực hiện hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có thể bị:

  • Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng;
  • Cải tạo không giam giữ đến 02 năm;
  • Hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Trường hợp thuộc khoản 2 Điều 156, mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Trong đó, việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội là một tình tiết định khung.

Trường hợp thuộc khoản 3 Điều 156, mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Như vậy, mức phạt tù cao nhất của tội vu khống là 07 năm.

Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định.

9. Phân biệt tội vu khống và tội làm nhục người khác

Trong thực tiễn, cùng một bài đăng trên mạng xã hội có thể chứa cả nội dung không đúng sự thật và lời lẽ xúc phạm. Tuy nhiên, không vì vậy mà mặc nhiên kết luận người đăng đã phạm đồng thời hai tội.

Đối với tội vu khống, vấn đề quan trọng là hành vi bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật, cùng mục đích hoặc hậu quả được quy định tại Điều 156.

Đối với tội làm nhục người khác, trọng tâm là hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm theo Điều 155.

Việc định tội phải căn cứ toàn bộ diễn biến, nội dung thông tin, nhận thức và ý chí của người thực hiện, hậu quả cùng các chứng cứ liên quan.

Đặc biệt, một lời nhận xét tiêu cực hoặc tranh luận gay gắt không tự động cấu thành tội làm nhục người khác.

10. Shop quần áo tố khách hàng ăn trộm trên fanpage có phạm tội vu khống không?

Quay lại tình huống ban đầu, cửa hàng phát hiện mất tài sản nhưng không có camera ghi nhận người lấy. Cửa hàng cho rằng khách hàng là người đáng nghi vì có mặt tại thời điểm phát hiện mất đồ.

Sau khi khách hàng phủ nhận, cửa hàng vẫn đăng bài công khai ám chỉ hoặc khẳng định khách hàng đã lấy trộm tài sản.

Để xác định trách nhiệm, cần làm rõ:

  • Nội dung bài đăng có xác định được người bị cáo buộc hay không?
  • Cửa hàng chỉ phản ánh sự việc hay khẳng định khách hàng đã trộm cắp?
  • Cửa hàng có chứng cứ nào làm căn cứ cho thông tin đăng tải?
  • Người đăng có biết thông tin là sai sự thật nhưng vẫn cố tình công bố hay không?
  • Bài đăng có kèm hình ảnh, tên, địa chỉ hoặc thông tin cá nhân của khách hàng không?
  • Có lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm không?
  • Thông tin đã gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng như thế nào?

Nếu cửa hàng công bố thông tin sai sự thật hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm, hành vi có thể bị xử phạt hành chính theo quy định.

Nếu chứng minh được đầy đủ các yếu tố cấu thành tội vu khống hoặc làm nhục người khác, người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, chỉ riêng việc cửa hàng không có camera hoặc chưa chứng minh được khách hàng lấy tài sản chưa đủ để mặc nhiên kết luận người đăng bài đã phạm tội vu khống. Cần làm rõ yếu tố lỗi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

11. Sử dụng tài khoản Facebook ảo để vu khống có tránh được trách nhiệm không?

Không.

Việc sử dụng tài khoản không công khai danh tính không làm cho hành vi vi phạm trở thành hợp pháp.

Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định được người thực hiện hành vi thông qua chứng cứ hợp pháp thì người đó vẫn có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng.

Đối với người bị hại, khi tài khoản đăng bài là tài khoản ẩn danh, cần lưu giữ đường dẫn, ảnh chụp, thời gian đăng tải, nội dung trao đổi và những dữ liệu có thể hỗ trợ việc xác minh.

12. Người bị vu khống có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không?

Có, nếu có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận quyền yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Đồng thời, Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Người bị xâm phạm có thể yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại phù hợp với quy định, bao gồm:

  • Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút nếu có căn cứ;
  • Thiệt hại khác do luật quy định;
  • Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần theo quy định.

Việc xác định mức bồi thường phải căn cứ vào thiệt hại, mối quan hệ nhân quả, các điều kiện phát sinh trách nhiệm và chứng cứ.

13. Người bị vu khống cần thu thập những chứng cứ gì?

Trong tranh chấp phát sinh trên mạng xã hội, chứng cứ điện tử thường đóng vai trò rất quan trọng.

Người bị xâm phạm nên chủ động bảo quản những tài liệu sau:

  • Ảnh chụp toàn bộ bài đăng, bình luận và nội dung chia sẻ;
  • Đường dẫn trực tiếp đến bài đăng hoặc tài khoản;
  • Thời gian đăng tải;
  • Thông tin tài khoản hoặc fanpage đăng bài;
  • Tin nhắn giữa các bên;
  • Video ghi màn hình thể hiện nội dung bài đăng và tài khoản đăng tải;
  • Tài liệu chứng minh thông tin bị đăng là không đúng sự thật;
  • Tài liệu chứng minh thiệt hại phát sinh nếu có.

Trong trường hợp cần thiết, người bị ảnh hưởng có thể cân nhắc các phương thức ghi nhận, bảo toàn chứng cứ điện tử phù hợp với pháp luật.

Không nên chỉ chụp một phần nội dung rồi bỏ qua thông tin tài khoản, thời điểm đăng hoặc bối cảnh trao đổi vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến việc xác minh.

14. Những sai lầm thường gặp khi xử lý việc bị vu khống trên mạng xã hội

Trong thực tế, người bị xúc phạm thường phản ứng bằng cảm xúc, dẫn đến những hành động có thể làm vụ việc trở nên phức tạp hơn.

Một số sai lầm cần tránh gồm:

  • Đăng bài xúc phạm lại người đã vu khống mình;
  • Công khai số điện thoại, địa chỉ hoặc thông tin riêng tư của người khác để trả đũa;
  • Chỉ tranh cãi qua bình luận mà không bảo quản chứng cứ;
  • Xóa toàn bộ tin nhắn liên quan;
  • Cho rằng người đăng xóa bài thì không còn căn cứ xử lý;
  • Tự khẳng định người khác phạm tội vu khống khi chưa có đủ chứng cứ;
  • Yêu cầu bồi thường một khoản tiền rất lớn nhưng không xác định căn cứ pháp lý.

Trong những trường hợp có nguy cơ phát sinh tranh chấp, người bị xâm phạm nên ưu tiên việc thu thập chứng cứ, xác định yêu cầu pháp lý và sử dụng cơ chế giải quyết phù hợp.

15. Câu hỏi thường gặp về hành vi vu khống, xúc phạm trên mạng xã hội

26.1. Đăng bài nói người khác ăn trộm khi chưa có bằng chứng có bị phạt không?

Có thể, nếu nội dung được xác định là thông tin sai sự thật, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm theo quy định. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm phải đánh giá thêm các yếu tố cấu thành tội tương ứng.

26.2. Vu khống người khác trên Facebook bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo điểm a khoản 1 Điều 95 và khoản 3 Điều 4 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, mức phạt hành chính tương ứng là từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với cá nhân, từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với tổ chức.

26.3. Vu khống người khác có thể bị đi tù bao nhiêu năm?

Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự, mức phạt tù cao nhất là 07 năm.

26.4. Xúc phạm người khác trên mạng xã hội có thể bị phạt tù không?

Có thể, nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự. Mức phạt tù cao nhất của tội này là 05 năm.

26.5. Bị vu khống có được yêu cầu xin lỗi công khai không?

Có. Điều 34 Bộ luật Dân sự quy định cơ chế bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bao gồm quyền yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai theo quy định.

26.6. Người đăng đã xóa bài thì còn bị xử lý không?

Có thể, nếu có đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm và còn căn cứ xử lý theo pháp luật.

26.7. Bị vu khống có được yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần không?

Có thể. Điều 592 Bộ luật Dân sự quy định khoản bù đắp tổn thất tinh thần và cách xác định mức bồi thường khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

26.8. Shop đăng ảnh khách hàng kèm lời tố cáo trộm cắp có vi phạm không?

Có thể phát sinh trách nhiệm liên quan đến việc đăng thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và quyền đối với hình ảnh. Phải xem xét chứng cứ, nội dung bài đăng, cách sử dụng hình ảnh và các tình tiết cụ thể.

16. Kết luận: Đăng bài vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào?

Hành vi đăng bài vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác trên Facebook, TikTok, Zalo hoặc các nền tảng mạng xã hội có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý.

Thứ nhất, về xử phạt hành chính: Theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, hành vi thuộc điểm a khoản 1 Điều 95 có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với cá nhân và từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với tổ chức, đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Thứ hai, về trách nhiệm hình sự: Nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự, mức phạt tù cao nhất là 05 năm. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội vu khống theo Điều 156, mức phạt tù cao nhất là 07 năm.

Thứ ba, về trách nhiệm dân sự: Người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại khi có đủ căn cứ.

Đối với trường hợp cửa hàng công khai cáo buộc khách hàng trộm cắp khi chưa có căn cứ, cần nhấn mạnh rằng quyền nghi ngờ, xác minh hoặc trình báo sự việc không đồng nghĩa với quyền tự ý quy kết người khác phạm tội trước cộng đồng mạng.

Mạng xã hội không phải là nơi thay thế hoạt động điều tra, xác minh và kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Mỗi cá nhân, tổ chức cần thận trọng trước khi đăng tải hoặc chia sẻ những thông tin có thể ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của người khác.

Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org

LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
    127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi

LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
    389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM

Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org

Website:  www.LuatsuQuangNgai.org     www.LCAlawfirm.vn     www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org

Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca

Công ty Luật LCA                    : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0905333560