Đặt tiền để bảo đảm là một trong các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và được áp dụng để thay thế tạm giam. Tuy nhiên, không phải cứ gia đình có khả năng nộp tiền là bị can, bị cáo đương nhiên được tại ngoại. Việc có cho đặt tiền để bảo đảm hay không phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình trạng tài sản và nhiều yếu tố khác.
Vậy đặt tiền để bảo đảm là gì? Ai có thể nộp tiền? Bị can bị khởi tố về tội phạm nghiêm trọng phải đặt ít nhất bao nhiêu tiền? Sau khi đặt tiền có được tại ngoại không? Tiền đã đặt có được trả lại không? Thời hạn áp dụng biện pháp này được xác định như thế nào?
Bài viết dưới đây phân tích quy định về đặt tiền để bảo đảm trong vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành năm 2026.

1. Đặt tiền để bảo đảm là gì?
Theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự, đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.
Hiểu đơn giản, trong một số trường hợp, thay vì tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can hoặc bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và yêu cầu người được áp dụng thực hiện những nghĩa vụ nhất định.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý:
Đặt tiền để bảo đảm không phải là “đóng tiền để được tại ngoại” theo ý muốn của bị can hoặc gia đình.
Gia đình có tiền và sẵn sàng nộp tiền không đồng nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp này.
2. Đặt tiền để bảo đảm có phải là một hình thức “bảo lãnh tại ngoại” không?
Trong thực tế, nhiều người thường sử dụng các cụm từ như “đóng tiền tại ngoại”, “nộp tiền bảo lãnh” hoặc “đóng tiền để được về nhà”.
Tuy nhiên, xét về thuật ngữ pháp lý, cần phân biệt rõ.
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp ngăn chặn khác nhau, trong đó có bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm. Đây là hai biện pháp có căn cứ, điều kiện và trình tự riêng.
Đặt tiền để bảo đảm được quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự và là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.
Do đó, khi thực hiện thủ tục, nên sử dụng đúng thuật ngữ “đặt tiền để bảo đảm” thay vì hiểu đơn giản đây là việc “nộp tiền để mua quyền tại ngoại”.
3. Ai có thể đặt tiền để bảo đảm cho bị can, bị cáo?
Theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiền bảo đảm có thể do:
- Bị can, bị cáo đặt; hoặc
- Người thân thích của bị can, bị cáo đặt theo quy định.
Theo Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC, tiền đặt để bảo đảm phải là Việt Nam đồng và thuộc sở hữu hợp pháp của người có quyền thực hiện việc đặt tiền theo quy định.
Đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, pháp luật còn có quy định liên quan đến người đại diện thực hiện thủ tục.
Như vậy, không nhất thiết chính bị can, bị cáo phải trực tiếp có đủ số tiền cần đặt. Trong những trường hợp pháp luật cho phép, người thân thích có thể thực hiện việc đặt tiền để bảo đảm.
4. Có tiền là chắc chắn được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không?
Không.
Đây là vấn đề quan trọng nhất cần hiểu khi áp dụng Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Pháp luật sử dụng thuật ngữ cơ quan tiến hành tố tụng “có thể quyết định” cho bị can, bị cáo hoặc người thân thích đặt tiền để bảo đảm.
Điều đó có nghĩa đây không phải quyền tuyệt đối mà bị can chỉ cần nộp đủ tiền là cơ quan tiến hành tố tụng phải chấp nhận.
Việc xem xét phải căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó có:
- Tính chất của hành vi bị điều tra, truy tố hoặc xét xử;
- Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi;
- Nhân thân của bị can, bị cáo;
- Tình trạng tài sản;
- Khả năng bỏ trốn;
- Nguy cơ tiếp tục phạm tội;
- Nguy cơ cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử;
- Các tình tiết cụ thể khác của vụ án.
Thông tư liên tịch 06/2018 cũng hướng dẫn cơ quan tiến hành tố tụng xem xét các yếu tố như nơi cư trú, việc phạm tội lần đầu, tình tiết giảm nhẹ, thái độ khai báo, việc khắc phục hoặc bồi thường thiệt hại và khả năng việc cho tại ngoại ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
5. Những trường hợp nào có thể không được cho đặt tiền để bảo đảm?
Theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC, việc áp dụng biện pháp này phải được xem xét trên cơ sở cụ thể của từng vụ án.
Thông tư đồng thời xác định một số trường hợp không áp dụng theo hướng dẫn này, chẳng hạn:
- Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, có tính chất côn đồ, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
- Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã;
- Phạm nhiều tội;
- Phạm tội nhiều lần.
Vì vậy, khi đánh giá khả năng xin áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, không nên chỉ nhìn vào loại tội phạm hoặc khả năng tài chính của gia đình.
6. Bị can phải cam đoan những gì khi được đặt tiền để bảo đảm?
Khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ.
Cụ thể gồm:
- Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
- Không bỏ trốn;
- Không tiếp tục phạm tội;
- Không mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu hoặc đồ vật của vụ án;
- Không tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;
- Không đe dọa, khống chế hoặc trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Những nghĩa vụ này cho thấy mục đích của việc đặt tiền không đơn thuần là thay thế việc tạm giam bằng một khoản tiền.
Biện pháp này nhằm bảo đảm bị can, bị cáo vẫn chịu sự quản lý của cơ quan tiến hành tố tụng và không gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
7. Vi phạm cam đoan sau khi đặt tiền thì xử lý thế nào?
Hậu quả có thể rất nghiêm trọng.
Theo khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì:
- Có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định;
- Số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Ví dụ, sau khi được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, bị can bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc người làm chứng nhằm thay đổi lời khai thì đây có thể là căn cứ để xử lý theo quy định về vi phạm nghĩa vụ cam đoan.
Vì vậy, việc được thay thế tạm giam bằng biện pháp đặt tiền không đồng nghĩa bị can, bị cáo hoàn toàn tự do và không còn chịu sự ràng buộc của cơ quan tố tụng.
8. Mức tiền đặt để bảo đảm năm 2026 là bao nhiêu?
Mức tiền cụ thể được hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.
Theo đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định mức tiền cụ thể nhưng về nguyên tắc không thấp hơn:
- 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
- 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;
- 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
- 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là các mức tối thiểu thông thường. Cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định số tiền cụ thể trên cơ sở vụ án và quy định pháp luật.
9. Ai quyết định cho bị can, bị cáo đặt tiền để bảo đảm?
Theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự, những người có thẩm quyền được pháp luật quy định và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm.
Tùy giai đoạn tố tụng, việc xem xét có thể thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.
Đối với một số quyết định do người có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra ban hành theo trường hợp luật quy định, quyết định phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Điều này một lần nữa cho thấy gia đình không thể tự nộp tiền vào một tài khoản rồi yêu cầu cơ sở tạm giam cho bị can về.
Phải có quá trình xem xét và quyết định hợp pháp của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Bị can, gia đình có được chủ động làm đơn xin đặt tiền để bảo đảm không?
Có.
Theo Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018, bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện trong các trường hợp được pháp luật quy định có quyền đề nghị bằng văn bản với cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
Nếu bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì đơn có thể được gửi qua cơ sở giam giữ.
Đơn của người thân thích hoặc người đại diện được gửi trực tiếp đến cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án theo quy định.
Việc làm đơn chỉ là bước đề nghị. Quyết định cuối cùng về việc có áp dụng biện pháp đặt tiền hay không vẫn thuộc cơ quan, người có thẩm quyền.
11. Cơ quan tố tụng giải quyết đề nghị đặt tiền trong bao lâu?
Theo Điều 7 Thông tư liên tịch 06/2018, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đề nghị và các giấy tờ liên quan, cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án có trách nhiệm xem xét.
Nếu đủ điều kiện, cơ quan tiến hành tố tụng ra thông báo cho người có liên quan để làm thủ tục đặt tiền.
Nếu xác định không đủ điều kiện áp dụng thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết và nêu rõ lý do theo quy định.
12. Sau khi được đồng ý thì phải nộp tiền trong bao lâu?
Theo Điều 8 Thông tư liên tịch 06/2018, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm, người có trách nhiệm thực hiện việc đặt tiền phải hoàn thành thủ tục.
Trường hợp có trở ngại khách quan hoặc lý do bất khả kháng khiến không thể hoàn thành đúng hạn thì thời hạn được xác định lại theo quy định.
Việc nộp tiền được thực hiện theo trình tự được Thông tư liên tịch quy định, trong đó có trường hợp nộp tại Kho bạc Nhà nước vào tài khoản tạm giữ.
13. Thời hạn đặt tiền để bảo đảm được xác định như thế nào?
Khoản 4 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:
Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người bị kết án phạt tù, thời hạn đặt tiền không quá thời hạn kể từ khi tuyên án đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Quy định này cần được hiểu gắn với từng giai đoạn tố tụng.
Không nên rút gọn thành nhận định rằng “đặt tiền để bảo đảm chỉ được áp dụng đến khi kết thúc điều tra”.
14. Gia đình muốn xin đặt tiền để bảo đảm nên chuẩn bị những gì?
Đối với một vụ án cụ thể, trước khi làm đơn đề nghị, nên rà soát kỹ các yếu tố có lợi cho việc áp dụng biện pháp thay thế tạm giam.
Các tài liệu thường cần quan tâm có thể liên quan đến:
- Nơi cư trú rõ ràng của bị can, bị cáo;
- Nhân thân;
- Hoàn cảnh gia đình;
- Tình trạng sức khỏe nếu có;
- Việc phạm tội lần đầu nếu thuộc trường hợp;
- Thái độ thành khẩn khai báo;
- Việc tự thú, đầu thú;
- Việc hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng;
- Việc tự nguyện khắc phục hậu quả hoặc bồi thường thiệt hại;
- Các tình tiết giảm nhẹ khác;
- Tài liệu chứng minh nguồn tiền hợp pháp dùng để đặt bảo đảm khi cần thiết.
Không phải tất cả tài liệu trên đều bắt buộc trong mọi hồ sơ. Việc chuẩn bị phải dựa trên tình trạng cụ thể của vụ án và yêu cầu của cơ quan đang thụ lý.
15. Những lưu ý quan trọng khi đề nghị đặt tiền để bảo đảm
Trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, gia đình bị can, bị cáo nên lưu ý một số vấn đề sau:
- Không coi đây là quyền đương nhiên: Có đủ tiền không đồng nghĩa chắc chắn được thay thế tạm giam.
- Đánh giá điều kiện trước khi làm đơn: Nhân thân, nơi cư trú, tính chất hành vi và nguy cơ cản trở tố tụng có ý nghĩa rất lớn.
- Chuẩn bị tài liệu chứng minh: Đơn đề nghị nên đi kèm những tài liệu có giá trị chứng minh các căn cứ được trình bày.
- Không tự ý nộp tiền: Việc đặt tiền phải thực hiện sau khi có thông báo và theo đúng trình tự.
- Chấp hành nghiêm nghĩa vụ sau khi được áp dụng: Bỏ trốn hoặc can thiệp vào chứng cứ, người làm chứng có thể dẫn đến tạm giam và tịch thu tiền.
- Phân biệt tiền bảo đảm với bồi thường: Đây là hai nghĩa vụ có bản chất khác nhau.
- Quan tâm đến từng giai đoạn tố tụng: Thời hạn và thẩm quyền áp dụng thay đổi theo giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
16. Kết luận
Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam được quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc áp dụng không phụ thuộc đơn thuần vào khả năng tài chính mà phải căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình trạng tài sản và các điều kiện khác của bị can, bị cáo.
Theo Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC, mức tiền tối thiểu thông thường hiện nay là 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng, 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với một số đối tượng đặc biệt được quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch này, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định mức thấp hơn nhưng không dưới một nửa mức tương ứng.
Về thời hạn, không nên hiểu rằng đặt tiền để bảo đảm chỉ được áp dụng trong giai đoạn điều tra. Khoản 4 Điều 122 quy định thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử tương ứng theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với người bị kết án phạt tù, thời hạn không vượt quá khoảng thời gian từ khi tuyên án đến khi người đó đi chấp hành án phạt tù.
Quan trọng hơn, đặt tiền để bảo đảm không phải là hình thức “đóng tiền để khỏi bị xử lý hình sự”. Bị can, bị cáo vẫn tiếp tục tham gia quá trình tố tụng và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan. Nếu vi phạm nghĩa vụ, họ có thể bị tạm giam và số tiền đã đặt có thể bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org
LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi
LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org
Website: www.LuatsuQuangNgai.org www.LCAlawfirm.vn www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org
Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca
Công ty Luật LCA : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai


