Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình về nguyên tắc không được cản trở quyền này.
Tuy nhiên, quyền thăm nom không phải là quyền tuyệt đối. Nếu cha hoặc mẹ lợi dụng việc thăm con để gây rối, kích động con chống đối người trực tiếp nuôi dưỡng, làm ảnh hưởng đến tâm lý, việc học tập hoặc sự phát triển bình thường của trẻ thì người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
Vậy trường hợp nào được yêu cầu hạn chế? Cần chứng minh những gì và thủ tục thực hiện trong năm 2026 ra sao?

1. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom như thế nào?
Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn vẫn có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có nghĩa vụ cấp dưỡng và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Như vậy, việc vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ giữa cha, mẹ và con.
Người trực tiếp nuôi con không thể chỉ vì mâu thuẫn với người còn lại mà tự ý cấm cha hoặc mẹ gặp con.
Ngược lại, người không trực tiếp nuôi con cũng không được lợi dụng quyền thăm nom để gây ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ.
Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
2. Những trường hợp nào có thể yêu cầu hạn chế quyền thăm nom?
Không phải cứ người trực tiếp nuôi con cho rằng việc gặp con của người kia là “không tốt” thì có thể tự mình cấm thăm con.
Muốn hạn chế quyền thăm nom, phải có căn cứ cho thấy người không trực tiếp nuôi con đã lạm dụng quyền thăm nom và việc đó cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong thực tế có thể gặp những trường hợp như:
- Đến thăm con nhưng thường xuyên gây gổ, chửi bới, đe dọa người trực tiếp nuôi con trước mặt trẻ;
- Lợi dụng việc gặp con để nói xấu cha hoặc mẹ, kích động con chống đối người đang trực tiếp chăm sóc;
- Tự ý đưa con đi và không đưa về theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến việc học tập và sinh hoạt của trẻ;
- Thường xuyên đến trường hoặc nơi ở để gây rối dưới danh nghĩa thăm con;
- Ép buộc trẻ thực hiện những việc gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tâm lý;
- Sử dụng việc thăm con như phương tiện để quấy rối, đe dọa hoặc kiểm soát người vợ/chồng cũ;
- Có những hành vi khác làm ảnh hưởng xấu rõ rệt đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
Điểm quan trọng là phải xem xét hành vi cụ thể và ảnh hưởng của hành vi đó đối với trẻ, chứ không đơn thuần dựa vào mâu thuẫn giữa cha và mẹ.
3. Phân biệt hạn chế quyền thăm nom với hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con
Đây là hai vấn đề rất dễ bị nhầm lẫn.
Trường hợp 1: Hạn chế quyền thăm nom sau ly hôn
Căn cứ trực tiếp là khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Trường hợp này xảy ra khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom.
Trường hợp 2: Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình quy định các căn cứ nghiêm trọng hơn, gồm:
- Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
- Phá tán tài sản của con;
- Có lối sống đồi trụy;
- Xúi giục, ép buộc con thực hiện những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Trong những trường hợp này, tùy tính chất vụ việc, Tòa án có thể quyết định không cho cha hoặc mẹ thực hiện một hoặc một số quyền như trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, yêu cầu hạn chế quyền thăm nom không nên được đánh đồng với yêu cầu hạn chế toàn bộ hoặc một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
4. Người trực tiếp nuôi con có được tự ý cấm người kia gặp con không?
Về nguyên tắc là không.
Khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, bên còn lại vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con.
Nếu cho rằng việc thăm nom đang gây ảnh hưởng xấu đến con, giải pháp pháp lý phù hợp là thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, thay vì tự ý cấm hoàn toàn việc gặp con.
Việc tự mình ngăn cản quyền thăm nom trong khi chưa có căn cứ pháp luật hoặc quyết định có thẩm quyền có thể làm phát sinh những vấn đề pháp lý khác.
5. Muốn yêu cầu hạn chế quyền thăm nom phải chuẩn bị chứng cứ gì?
Đây thường là vấn đề quan trọng nhất của vụ việc.
Người yêu cầu không nên chỉ trình bày rằng:
“Anh ấy thường xuyên làm ảnh hưởng đến con.”
hoặc:
“Cô ấy gặp con khiến con không nghe lời tôi.”
Những nhận định mang tính chủ quan như vậy thường chưa đủ.
Cần cố gắng thu thập những chứng cứ thể hiện hành vi cụ thể và ảnh hưởng thực tế đối với trẻ, chẳng hạn:
- Tin nhắn;
- Email;
- Ghi âm, ghi hình được thu thập hợp pháp;
- Hình ảnh;
- Biên bản làm việc với Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền;
- Biên bản xác nhận sự việc;
- Tài liệu của nhà trường;
- Tài liệu y tế;
- Tài liệu thể hiện tình trạng tâm lý của trẻ;
- Lời khai của người chứng kiến;
- Những tài liệu thể hiện việc tự ý đưa trẻ đi, không giao trả trẻ hoặc gây rối khi thăm nom;
- Các bản án, quyết định hoặc tài liệu của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hành vi của người bị yêu cầu.
Tòa án sẽ đánh giá tổng thể chứng cứ và đặc biệt xem xét quyền, lợi ích chính đáng của người con.
6. Ai có quyền yêu cầu Tòa án?
Đối với trường hợp lạm dụng việc thăm nom sau ly hôn, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình xác định người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 85, Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định những chủ thể có quyền yêu cầu gồm:
- Cha, mẹ;
- Người giám hộ của con chưa thành niên;
- Người thân thích;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội Liên hiệp Phụ nữ.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi thuộc trường hợp Điều 85 cũng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định yêu cầu Tòa án xem xét.
7. Tòa án nào giải quyết yêu cầu hạn chế quyền thăm nom năm 2026?
Đây là nội dung cần đặc biệt cập nhật so với các bài viết trước ngày 01/7/2025.
Khoản 4 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thuộc nhóm yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo cơ cấu tổ chức và quy định tố tụng hiện hành, thẩm quyền sơ thẩm hiện nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực, thay vì Tòa án nhân dân cấp huyện như hướng dẫn trong nhiều bài viết cũ.
Về lãnh thổ, pháp luật tố tụng cho phép đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau ly hôn, người yêu cầu có thể lựa chọn Tòa án nơi người con cư trú để giải quyết.
Do đó, khi thực hiện thủ tục trong năm 2026, cần xác định chính xác TAND khu vực có địa hạt tư pháp bao gồm nơi cư trú của người con, tránh sử dụng máy móc hướng dẫn cũ về việc nộp tại “TAND cấp huyện”.
8. Hồ sơ yêu cầu hạn chế quyền thăm nom gồm những gì?
Tùy từng vụ việc, hồ sơ có thể gồm:
1. Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự
Trong đơn cần trình bày rõ:
- Thông tin người yêu cầu;
- Thông tin người bị yêu cầu;
- Thông tin của con;
- Bản án hoặc quyết định ly hôn;
- Người đang trực tiếp nuôi con;
- Quá trình thực hiện quyền thăm nom;
- Những hành vi bị cho là lạm dụng quyền thăm nom;
- Ảnh hưởng đối với con;
- Yêu cầu cụ thể đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật.
3. Giấy khai sinh của con.
4. Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu.
5. Tài liệu về nơi cư trú của các bên và của người con nếu cần thiết để xác định thẩm quyền.
6. Chứng cứ chứng minh việc lạm dụng quyền thăm nom hoặc hành vi gây ảnh hưởng xấu đến con.
Tùy tình tiết vụ việc, Tòa án có thể yêu cầu bổ sung tài liệu khác.
9. Thủ tục yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con
Bước 1: Chuẩn bị đơn và chứng cứ
Người yêu cầu cần xác định rõ mình muốn Tòa án hạn chế hành vi nào và vì sao việc tiếp tục thăm nom theo cách hiện tại gây ảnh hưởng đến con.
Đây là giai đoạn nên chuẩn bị chứng cứ kỹ nhất.
Bước 2: Nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền
Hồ sơ được nộp đến TAND khu vực có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với trường hợp lựa chọn theo nơi cư trú của người con, cần xác định TAND khu vực quản lý địa bàn tương ứng tại thời điểm nộp đơn.
Bước 3: Tòa án xem xét đơn
Theo Điều 363 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau khi nhận đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục xem xét đơn.
Nếu đơn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, Tòa án có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Nếu đủ điều kiện thụ lý, người yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về lệ phí theo quy định, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp.
Bước 4: Tòa án chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong quá trình này, Tòa án có thể tiến hành các hoạt động cần thiết để làm rõ:
- Hành vi của người bị yêu cầu;
- Mức độ ảnh hưởng đối với trẻ;
- Điều kiện chăm sóc và sinh hoạt của con;
- Ý kiến của những người có liên quan;
- Những chứng cứ do các bên cung cấp.
Bước 5: Mở phiên họp giải quyết việc dân sự
Sau khi xem xét chứng cứ và ý kiến của những người tham gia, Tòa án quyết định có chấp nhận yêu cầu hạn chế quyền thăm nom hay không.
10. Có thể yêu cầu “cấm gặp con vĩnh viễn” không?
Không nên hiểu hạn chế quyền thăm nom đồng nghĩa với việc đương nhiên tước bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn quan hệ giữa cha, mẹ và con.
Mục đích của việc hạn chế là bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ, chứ không phải trừng phạt người vợ hoặc chồng cũ.
Tòa án phải căn cứ vào hành vi thực tế, mức độ ảnh hưởng và lợi ích của trẻ để quyết định phạm vi phù hợp.
Đối với trường hợp hạn chế các quyền của cha, mẹ theo Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định thời hạn hạn chế từ 01 năm đến 05 năm và Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời hạn tùy trường hợp.
11. Bị hạn chế quyền đối với con có được miễn cấp dưỡng không?
Không.
Việc bị hạn chế một số quyền đối với con không đồng nghĩa với việc chấm dứt quan hệ cha, mẹ, con và cũng không đương nhiên làm mất nghĩa vụ cấp dưỡng.
Luật Hôn nhân và gia đình quy định cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Do đó, không thể lấy lý do “không được gặp con” để tự ý ngừng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án, quyết định hoặc thỏa thuận có hiệu lực.
12. Những sai lầm thường gặp khi yêu cầu hạn chế quyền thăm nom
Sai lầm phổ biến nhất là biến mâu thuẫn giữa vợ chồng cũ thành lý do để yêu cầu cấm người kia gặp con.
Tòa án xem xét lợi ích của trẻ, không giải quyết mâu thuẫn tình cảm giữa hai người đã ly hôn thông qua việc hạn chế quyền làm cha, làm mẹ.
Một số trường hợp khác chỉ có lời trình bày nhưng không chuẩn bị được chứng cứ chứng minh hành vi lạm dụng quyền thăm nom.
Ngược lại, cũng có người có đầy đủ tin nhắn, video, tài liệu của nhà trường hoặc cơ quan chức năng nhưng không hệ thống được diễn biến sự việc, dẫn đến hồ sơ thiếu trọng tâm.
Vì vậy, trước khi nộp đơn, cần trả lời được ba câu hỏi:
Người kia đã làm gì?
Hành vi đó ảnh hưởng đến con như thế nào?
Có chứng cứ gì chứng minh?
Đây thường là ba vấn đề trọng tâm khi xem xét một yêu cầu hạn chế quyền thăm nom.
Kết luận
Quyền thăm nom con sau ly hôn là quyền và đồng thời là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Vì vậy, người trực tiếp nuôi con không được tùy tiện ngăn cản chỉ vì mâu thuẫn cá nhân với vợ hoặc chồng cũ.
Tuy nhiên, pháp luật cũng không cho phép cha hoặc mẹ lợi dụng quyền thăm nom để gây rối, thao túng tâm lý, cản trở việc nuôi dưỡng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ.
Khi có căn cứ cho rằng quyền thăm nom đang bị lạm dụng, người trực tiếp nuôi con có thể thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều quan trọng trong những vụ việc này không phải chứng minh rằng cha và mẹ còn mâu thuẫn với nhau, mà phải chứng minh được hành vi thăm nom đang gây hoặc có căn cứ cho thấy gây ảnh hưởng xấu đến quyền, lợi ích và sự phát triển của người con.
Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org
LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi
LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org
Website: www.LuatsuQuangNgai.org www.LCAlawfirm.vn www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org
Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca
Công ty Luật LCA : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai


