Sau khi quan hệ cha con được xác lập hợp pháp, người cha phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Việc cha mẹ có đăng ký kết hôn hay không không phải căn cứ để phân biệt quyền của người con. Người cha có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cấp dưỡng trong trường hợp luật định, đồng thời có quyền chăm sóc, thăm nom, đại diện và thực hiện các quyền khác đối với con theo quy định.
Trong thực tế, nhiều trường hợp trẻ được sinh ra khi cha mẹ không đăng ký kết hôn, giấy khai sinh ban đầu chưa có thông tin người cha hoặc người cha trước đây không thừa nhận con. Sau khi quan hệ cha con được xác định, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là: Người cha có những quyền gì? Có bắt buộc phải cấp dưỡng không? Có được giành quyền nuôi con không? Người mẹ có quyền không cho cha gặp con hay không? Con có quyền thừa kế tài sản của cha không?
Bài viết dưới đây phân tích cụ thể theo pháp luật hiện hành.

1. Khi nào quan hệ cha con được pháp luật công nhận?
Quan hệ cha, mẹ, con có thể được xác định theo nhiều căn cứ và thủ tục khác nhau.
Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng;
- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân;
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
Ngoài các trường hợp trên, quan hệ cha con còn có thể được xác lập thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con tại cơ quan hộ tịch hoặc thông qua bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án.
2. Không phải trường hợp nào nhận cha cho con cũng phải ra Tòa
Đây là vấn đề thường bị nhầm lẫn.
Nếu người cha và người mẹ đều thống nhất về quan hệ cha con, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện đăng ký hộ tịch thì có thể thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo Luật Hộ tịch.
Ví dụ:
Chị A sinh con khi chưa đăng ký kết hôn. Giấy khai sinh của trẻ hiện chỉ ghi thông tin người mẹ. Sau đó anh B thừa nhận mình là cha của trẻ, chị A cũng đồng ý và các bên có chứng cứ chứng minh quan hệ cha con.
Trong trường hợp đáp ứng điều kiện pháp luật về hộ tịch, các bên có thể thực hiện thủ tục nhận cha cho con mà không nhất thiết phải khởi kiện tại Tòa án.
Ngược lại, nếu có tranh chấp, chẳng hạn người mẹ khẳng định B là cha nhưng B không thừa nhận, thì việc xác định quan hệ cha con có thể phải được giải quyết tại Tòa án.
3. Cần phân biệt “yêu cầu xác định cha con” và “tranh chấp xác định cha con”
Bộ luật Tố tụng dân sự phân biệt hai trường hợp.
3.1. Tranh chấp về xác định cha, mẹ, con
Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ thuộc nhóm tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ví dụ:
Người mẹ yêu cầu xác định ông A là cha của trẻ nhưng ông A phủ nhận. Hai bên tranh chấp về quan hệ huyết thống.
Trường hợp này được giải quyết theo thủ tục vụ án.
3.2. Yêu cầu xác định cha, mẹ, con
Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Tòa án còn có thẩm quyền đối với yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Đây là trường hợp được giải quyết theo thủ tục việc dân sự khi đáp ứng các điều kiện tương ứng.
Vì vậy, không nên dùng chung cụm từ “nộp đơn yêu cầu công nhận cha con” cho tất cả trường hợp.
4. Sau khi được xác định là cha con thì người cha có đầy đủ quyền và nghĩa vụ không?
Có.
Việc xác lập quan hệ cha con không chỉ có ý nghĩa bổ sung tên người cha vào giấy khai sinh.
Quan trọng hơn, từ quan hệ cha con hợp pháp sẽ phát sinh hàng loạt quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha và con.
Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền đối với con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.
Do đó, không có chuyện:
“Con ngoài giá thú thì người cha chỉ cần nhận con chứ không có nghĩa vụ nuôi con.”
Pháp luật không phân biệt quyền của người con dựa trên việc cha mẹ có đăng ký kết hôn hay không.
5. Người cha có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con
Điều 69 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Cha và mẹ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc:
- Trông nom con;
- Chăm sóc con;
- Nuôi dưỡng con;
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con;
- Chăm lo việc học tập;
- Giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
Nghĩa vụ này đặc biệt áp dụng đối với con chưa thành niên và các trường hợp con đã thành niên nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định vẫn cần được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng.
6. Cha mẹ không kết hôn thì người cha có phải nuôi con không?
Có.
Việc cha mẹ không đăng ký kết hôn không làm mất quan hệ cha con sau khi quan hệ này đã được xác định hợp pháp.
Ví dụ:
A và B sống chung nhưng không đăng ký kết hôn và có một con chung. Sau khi sinh, con mang họ mẹ và giấy khai sinh ban đầu chưa ghi tên cha.
Sau đó B được xác định hợp pháp là cha của trẻ.
Kể từ khi quan hệ cha con được xác lập, B có quyền và nghĩa vụ đối với con theo pháp luật. B không thể lấy lý do:
“Tôi và mẹ của cháu chưa từng kết hôn nên tôi không có nghĩa vụ nuôi cháu.”
để phủ nhận nghĩa vụ đối với con.
7. Người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con không?
Việc có phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng hay không phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể.
Luật Hôn nhân và gia đình quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trong các trường hợp luật định.
Điều này thường gặp khi:
- Cha mẹ ly hôn;
- Cha mẹ không đăng ký kết hôn và không sống chung;
- Con đang do mẹ trực tiếp chăm sóc;
- Người cha được xác định sau khi trẻ đã sinh ra và hiện không trực tiếp nuôi dưỡng.
Trong những trường hợp này, người cha không thể cho rằng mình không sống cùng con thì không có nghĩa vụ đóng góp chi phí nuôi con.
8. Không có tên cha trong giấy khai sinh thì có yêu cầu cấp dưỡng được không?
Nếu chưa có căn cứ pháp lý xác định người bị yêu cầu là cha của trẻ thì trước tiên cần giải quyết vấn đề xác định quan hệ cha con.
Tùy trường hợp, người có quyền có thể:
- Thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu các bên tự nguyện và đáp ứng điều kiện;
- Yêu cầu Tòa án xác định cha cho con nếu thuộc trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Sau khi có căn cứ pháp lý xác định quan hệ cha con, nghĩa vụ cấp dưỡng có thể được đặt ra theo quy định.
Trong trường hợp có tranh chấp, yêu cầu xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng có thể cần được xem xét trong cùng vụ việc hoặc theo thủ tục phù hợp tùy nội dung yêu cầu.
9. Mức cấp dưỡng cho con được xác định như thế nào?
Mức cấp dưỡng không phải lúc nào cũng có một con số cố định.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình, mức cấp dưỡng được xác định căn cứ vào:
- Thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Hai bên có thể tự thỏa thuận.
Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì vậy, không có quy định chung rằng người cha phải cấp dưỡng một mức tiền cố định giống nhau cho mọi trường hợp.
10. Có thể yêu cầu người cha cấp dưỡng từ thời điểm con mới sinh không?
Đây là vấn đề cần xem xét rất thận trọng theo yêu cầu cụ thể và chứng cứ của vụ việc.
Không nên mặc nhiên cho rằng cứ sau khi xác định cha con thì Tòa án chắc chắn buộc người cha “truy cấp” toàn bộ tiền nuôi con từ ngày sinh cho đến ngày xét xử.
Việc xác định thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải căn cứ vào nội dung yêu cầu, quá trình thực hiện nghĩa vụ trước đó, thời điểm phát sinh yêu cầu và quy định pháp luật áp dụng cho vụ việc.
Nếu có tranh chấp về khoản cấp dưỡng cho thời gian trước đó thì cần trình bày rõ yêu cầu và chứng cứ chứng minh.
11. Người cha có quyền gặp và thăm nom con không?
Có.
Khi quan hệ cha con đã được xác lập hợp pháp, người cha có quyền thực hiện quyền chăm sóc, thăm nom con theo quy định.
Việc cha mẹ không kết hôn, không còn sống chung hoặc có mâu thuẫn với nhau không phải là lý do để tùy tiện cắt đứt quan hệ giữa cha và con.
Đặc biệt, quyền thăm nom phải được thực hiện vì lợi ích của trẻ, không phải là công cụ để cha hoặc mẹ gây áp lực cho người còn lại.
12. Người mẹ có được cấm cha gặp con không?
Không được tùy tiện ngăn cản.
Nếu người cha có quyền thăm nom, chăm sóc con theo quy định thì người mẹ hoặc người khác không được tự ý cản trở chỉ vì giữa cha mẹ có mâu thuẫn.
Tuy nhiên, quyền thăm nom không phải là quyền tuyệt đối.
Nếu việc thăm nom bị lạm dụng để:
- Cản trở việc chăm sóc con;
- Gây ảnh hưởng xấu đến con;
- Gây nguy hiểm cho con;
- Hoặc thuộc trường hợp pháp luật cho phép hạn chế quyền;
thì người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án xem xét hạn chế quyền thăm nom theo quy định.
13. Không cấp dưỡng thì có bị cấm gặp con không?
Không thể tự động áp dụng cách xử lý này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom là những vấn đề pháp lý có liên quan nhưng không phải cứ vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng thì người còn lại được tự ý tước quyền gặp con.
Nếu người cha không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người có quyền có thể yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, yêu cầu thi hành bản án, quyết định hoặc sử dụng các biện pháp pháp lý phù hợp.
Còn việc hạn chế quyền thăm nom phải có căn cứ và được giải quyết theo quy định pháp luật.
14. Ngăn cản cha gặp con có thể bị xử phạt không?
Có thể.
Theo quy định xử phạt vi phạm hành chính hiện hành, hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con có thể bị xử phạt nếu đáp ứng dấu hiệu của hành vi vi phạm và không thuộc trường hợp quyền thăm nom đã bị hạn chế theo quyết định của Tòa án.
Mức phạt hiện hành đối với hành vi thuộc trường hợp này là từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Tuy nhiên, trước khi kết luận một người có hành vi “ngăn cản trái pháp luật”, cần kiểm tra:
- Quan hệ cha con đã được xác lập hợp pháp chưa;
- Ai đang trực tiếp chăm sóc trẻ;
- Có bản án, quyết định của Tòa án liên quan không;
- Quyền thăm nom có đang bị hạn chế không;
- Hành vi thực tế của các bên;
- Việc thăm nom có ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ hay không.
Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi.org
LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi
LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org
Website: www.LuatsuQuangNgai.org www.LCAlawfirm.vn www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org
Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca
Công ty Luật LCA : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai


