Mục lục
- 1. Đặt vấn đề
- 2. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là ai?
- 3. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được tự mình ly hôn không?
- 4. Cha mẹ có được yêu cầu ly hôn thay cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không?
- 5. Hồ sơ ly hôn trong trường hợp có người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
- 6. Kết luận
- Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi .org
1. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn hành nghề, không ít trường hợp cha mẹ tìm đến luật sư với mong muốn thay mặt con mình thực hiện thủ tục ly hôn khi người con nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Tuy nhiên, một trong những nhầm lẫn phổ biến hiện nay là đồng nhất giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi.
Sự nhầm lẫn này dẫn đến việc áp dụng không chính xác quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền yêu cầu ly hôn.
Vậy người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là ai? Cha mẹ có được quyền yêu cầu ly hôn thay cho người này hay không?
2. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là ai?
Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Theo quy định trên, để một người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải đồng thời đáp ứng hai điều kiện:
- Có tình trạng nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác;
- Việc nghiện dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.
Việc tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện thông qua quyết định của Tòa án.
Điều cần lưu ý là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Họ không phải là người mất năng lực hành vi dân sự.
Hạn chế ở đây chủ yếu liên quan đến việc xác lập, thực hiện các giao dịch về tài sản.
3. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được tự mình ly hôn không?
Về nguyên tắc, ly hôn là quyền nhân thân đặc biệt gắn liền với mỗi cá nhân.
Theo Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trong khi đó, Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.
Do đó, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn là chủ thể trực tiếp thực hiện quyền yêu cầu ly hôn nếu họ có khả năng nhận thức và thể hiện ý chí của mình.
Việc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không làm mất quyền tự quyết đối với quan hệ hôn nhân.
4. Cha mẹ có được yêu cầu ly hôn thay cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không?
Câu trả lời là không.
Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Cha, mẹ hoặc người thân thích khác chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng:
- Bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;
- Đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người còn lại gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe hoặc tinh thần.
Như vậy, quyền yêu cầu ly hôn thay chỉ phát sinh khi đồng thời có đủ hai điều kiện:
Điều kiện thứ nhất
Người vợ hoặc chồng không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
Điều kiện thứ hai
Người đó là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình nghiêm trọng.
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì cha mẹ hoặc người thân thích không có quyền khởi kiện ly hôn thay.
Đặc biệt, việc một người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự không đồng nghĩa với việc họ không thể nhận thức hoặc làm chủ hành vi.
Do đó, chỉ riêng việc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không phải là căn cứ để cha mẹ yêu cầu ly hôn thay cho con.
5. Hồ sơ ly hôn trong trường hợp có người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Nếu người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có yêu cầu ly hôn thì hồ sơ về cơ bản vẫn thực hiện như các vụ án ly hôn thông thường, gồm:
- Đơn khởi kiện ly hôn hoặc đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
- Căn cước công dân của vợ chồng;
- Giấy khai sinh của con chung;
- Tài liệu chứng minh tài sản chung, nợ chung (nếu có);
- Quyết định của Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự (nếu có).
Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ xem xét vai trò tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
6. Kết luận
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn là người có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi ở mức độ nhất định. Việc hạn chế chủ yếu liên quan đến các giao dịch tài sản chứ không làm mất quyền nhân thân trong quan hệ hôn nhân.
Vì vậy, cha mẹ hoặc người thân thích không đương nhiên có quyền yêu cầu ly hôn thay cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Quyền yêu cầu ly hôn thay chỉ phát sinh trong trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi người đó không thể nhận thức, làm chủ hành vi và đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình.
Việc phân biệt chính xác giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định đúng chủ thể có quyền yêu cầu ly hôn và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử.
Liên hệ – Luật sư Quảng Ngãi .org
LUẬT SƯ TẠI QUẢNG NGÃI
127 Nguyễn Tự Tân, Quảng Ngãi
LUẬT SƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
389/74/6 Lê Văn Khương, P. Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
Hotline: 0905 333 560
Email: info@luatsuquangngai.org
Website: www.LuatsuQuangNgai.org www.LCAlawfirm.vn www.DoanhNghiep.LuatsuQuangNgai.org
Fanpage Luật Sư Quảng Ngãi: https://www.facebook.com/luatsuquangngailca
Công ty Luật LCA : https://www.facebook.com/luatsugioiquangngai


